vanban.org

Bản án 35/2022/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Mai Tuấn D đối với bà Nguyễn Thị C, ông Lê Văn B, bà Nguyễn Thị V, bà Nguyễn Thị P về việc yêu cầu bà Nguyễn Thị C, ông Lê Văn B, bà Nguyễn Thị V phải chuyển nhượng quyền sử dụng đất diện tích 19,4m2 và yêu cầu bà Nguyễn Thị P phải tháo d…

Ông Mai Tuấn D và bà Lê Thị N được sử dụng phần đất diện tích 17,3m2 trong phạm vi các mốc 02, 03, 04, 05, 06, 07, 02’ trở về 02, tại một phần thửa 1252, tờ bản đồ số 03 (bản đồ địa chính chính quy là một phần thửa 128, tờ bản đồ số 137), tọa lạc xã Tân TH, huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp, chưa đượ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Hành trình vụ án
Sơ thẩm — đang xem Bản án 35/2022/DS-ST Tuyên án 28/04/2022
Phúc thẩm Bản án 414/2022/DS-PT Tuyên án 07/09/2022

Hành trình ghép tự động từ trích dẫn giữa các bản án đã công bố — có thể chưa đủ mọi giai đoạn của vụ án.

Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất — án dân sự — "Quyền sử dụng đất"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Mai Tuấn D đối với bà Nguyễn Thị C, ông Lê Văn B, bà Nguyễn Thị V, bà Nguyễn Thị P về việc yêu cầu bà Nguyễn Thị C, ông Lê Văn B, bà Nguyễn Thị V phải chuyển nhượng quyền sử dụng đất diện tích 19,4m2 và yêu cầu bà Nguyễn Thị P phải tháo d…
  • Căn cứ chính? Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THANH BÌNH
TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:35/2022/DS-ST
Ngày: 28-4-2022.
V/v Hợp đồng chuyển nhượng quyền
sử dụng đất.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH BÌNH, TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lý Thị B Thơ

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Trần Quang Vinh.

2. Ông Ngô Văn Khon.

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Bích là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Thanh Xuân – Kiểm sát viên.

Trong các ngày 23 tháng 3 và ngày 22, 28 tháng 4 năm 2022, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 351/2016/TLST-DS ngày 30 tháng 12 năm 2016 về “Tranh chấp dân sự Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 15/2022/QĐXXST-DS ngày 10 tháng 3 năm 2022 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Mai Tuấn D, sinh năm: 1963;

Nơi cư trú: Ấp T, xã H, huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp.

- Bị đơn: Bà Nguyễn Thị C, sinh năm: 1945;

Nơi cư trú: Số 801, ấp T, xã H, huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Bà Lê Thị N, sinh năm 1966;

2. Bà Nguyễn Thị P, sinh năm: 1956;

Nơi cư trú: Số 800, ấp T, xã H, huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp.

3. Anh Lương Hữu H, sinh năm: 1979;

4. Cháu Trần Thị Thoại M, sinh năm: 2004;

5. Cháu Trần Thị Lê Thu T, sinh năm: 2006.

Cùng nơi cư trú: Ấp T, xã Tân TH, huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp.

6. Ông Lê Văn B, sinh năm: 1952,

Ông Lê Văn B ủy quyền cho bà Nguyễn Thị V, Theo văn bản ủy quyền ngày 10/01/2017.

7. Bà Nguyễn Thị V, sinh năm: 1954;

8. Chị Lê Thị Ngọc B, sinh năm: 1980;

9. Anh Lê Quang H, sinh năm: 1991;

10. Chị Lê Thị M T1, sinh năm: 1983;

Cùng nơi cư trú: Số 771, ấp T, xã Tân TH, huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp.

11. Chị Lê Thị T2, sinh năm: 1986;

Nơi cư trú: Xã A, huyện C, tỉnh An Giang;

12. Chị Lê Thị B T3, sinh năm: 1989;

Nơi cư trú: Thị trấn M, huyện C, tỉnh An Giang;

13. Chị Lê Thị Ngọc T4, sinh năm: 1977;

Nơi cư trú: Ấp T, xã L, huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp;

14. Ủy ban nhân dân huyện Thanh Bình

Người đại diện theo pháp luật là ông Huỳnh Văn N, chức vụ: Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện Thanh Bình.

Người đại diện theo ủy quyền là ông Mai Văn Đ, chức vụ Phó chủ tịch, Theo văn bản ủy quyền số 59/GUQ ngày 27/7/2021.

Nguyên đơn ông D có mặt, bị đơn bà C có mặt; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà P, bà N, ông B, bà V, ông B ủy quyền cho bà V có mặt; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh H, chị M, chị T, chị B, anh H, chị T1, chị T2, chị T3, chị T4, ông Đ vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại Đơn khởi kiện đề ngày 23/11/2016 của ông Mai Tuấn D, Đơn khởi kiện bổ sung ngày 12/01/2018 của ông Mai Tuấn D, Đơn khởi kiện phản tố ngày 08/01/2018 của bà Nguyễn Thị C, Đơn khởi kiện độc lập ngày 19/02/2017 của ông Lê Văn B và bà Nguyễn Thị V, bản khai, biên bản lấy lời khai, biên bản hòa giải và trong quá trình xét xử:

- Nguyên đơn ông Mai Tuấn D trình bày: Vào ngày 04/6/2013dl (nhằm ngày 25/4/2013al) ông Mai Tuấn D, bà Lê Thị N có nhận sang nhượng 01 căn nhà của bà C, tọa lạc chợ Tân TH, với giá 120 chỉ vàng 24kra, ông D và bà N đã giao đủ 120 chỉ vàng 24kra cho bà C, bà C đã giao nhà và đất cho ông D, bà N quản lý sử dụng từ năm 2013. Phần đất ông D, bà N nhận chuyển nhượng của bà Nguyễn Thị C diện tích Nng 4m x dài 15m = 60m2, thuộc 02 thửa đất, thửa 1849 và một phần thửa 1236, cùng tờ bản đồ số 03, tọa lạc ấp Trung, xã Tân TH, huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp.

Trong phần đất diện tích 60m2 nêu trên, chia làm 02 phần gồm:

1. Diện tích ngang 04m x dài 10m = 40m2, ngày 26/3/2014 ông D, bà N với bà C ký Hợp đồng chuyển nhượng QSD đất thửa 1849, tờ bản đồ 03, diện tích 40m2 (ONT), tọa lạc ấp Trung, xã Tân TH, UBND huyện Thanh Bình cấp giấy chứng nhận QSD đất số 03354QSDĐ/A4 ngày 04/11/2002 cho hộ bà Nguyễn Thị C, giá chuyển nhượng là 200.000.000đ, được UBND xã Tân TH chứng thực. Ông D, bà N được UBND huyện cấp giấy chứng nhận QSD số CH01631 ngày 10/6/2014, đã chuyển nhượng xong, ông D và bà N không có tranh chấp.

2. Diện tích ngang 04m x dài 05m = 20m2, thuộc một phần thửa 1236, tờ bản đồ số 03, tọa lạc ấp Trung, xã Tân TH, được UBND huyện cấp giấy chứng nhận QSD đất số 00095QSDĐ/A4 ngày 20/4/1994 cho hộ ông Lê Văn B, bà C chưa chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho ông D, bà N theo như nội dung tờ sang nhà ngày 04/6/2013. Nguồn gốc đất diện tích 20m2 nêu trên là của bà Võ Thị X (mẹ ruột ông B) chuyển nhượng cho bà C vào năm 1996, chưa làm hợp đồng chuyển nhượng QSD đất, chỉ làm Tờ mua bán ngày 17/9/1996.

Ngoài ra, trên đất có 01 phần nhà của bà Nguyễn Thị P (em ruột của bà C) cất nhà lấn sang một phần thửa 1236, diện tích là 2.1m2, khi sang nhượng bà C hẹn đến tháng 9/2014 sẽ buộc bà P tháo dở, di dời nhà bếp cất lấn chiếm để giao đất cho ông D, bà N. Đến hẹn bà bà C không thực hiện việc tháo dở nhà, ông D có kH nại đến UBND xã Tân TH nhờ giải quyết, tại Biên bản giải quyết ngày 15/12/2014 bà P thống nhất tháo dở phần diện tích đã lấn chiếm để trả đất lại, nhưng đến nay bà P V không thực hiện.

Nay ông Mai Tuấn D yêu cầu: Bà C, ông B, bà V (vợ ông B) phải chuyển nhượng Quyền sử dụng đất cho ông D, bà N diện tích 20m2 (thực đo 19,4m2) thuộc một phần thửa 1236, tờ bản đồ số 03, tọa lạc xã Tân TH, được UBND huyện Thanh Bình cấp giấy chứng nhận QSD đất ngày 20/4/1994 cho hộ ông Lê Văn B (Nay là thửa 96, tờ bản đồ số 137, diện tích 679,2m2 (ONT), tọa lạc xã Tân TH được UBND huyện cấp giấy chứng nhận QSD đất số CH04155, ngày 16/12/2015 cho hộ ông Lê Văn B). Bà Nguyễn Thị P phải tháo dở, di dời 01 phần căn nhà bếp kết cấu mái tol, xây tường, nền lót gạch bông, xà gồ kẻm, diện tích 2,1m2, thuộc một phần thửa 1236 nêu trên. Bà Nguyễn Thị C trả lại 1,2 chỉ vàng 24kra do bà C giao đất còn thiếu diện tích 0,6m2 và yêu cầu bà Nguyễn Thị C trả lại 01 chỉ vàng 24kra do bà C giao đất thiếu 0,5m2. Tổng cộng là 2,2 chỉ vàng 24kra Đ với diện tích thiếu là 1,1m2. Không thống nhất yêu cầu khởi kiện phản tố của bà Nguyễn Thị C trả lại 04 chỉ vàng 24kra do ông D, bà N sử dụng đất dư diện tích 2m2, thuộc một phần thửa 1849.

- Bị đơn bà Nguyễn Thị C trình bày: Vào ngày 04/6/2013(dl) bà C có sang nhượng cho bà N, ông D 01 căn nhà và đất tọa lạc tại ấp Trung, xã Tân TH, huyện Thanh Bình, Đồng Tháp, với giá là 120 chỉ vàng 24kra, bà C đã nhận đủ số vàng ông D giao và bà C đã giao nhà và đất cho ông D, bà N sử dụng, diện tích 60m2, thuộc 2 thửa đất gồm: Diện tích ngang 4m x dài 10m= 40m2, thuộc thửa số 1849 do bà C đứng tên GCNQSD đất và đã chuyển nhượng cho ông D, bà N xong, diện tích đo đạc thực tế là 42m2, dư 2m2. Diện tích còn lại ngang 4m x dài 5m = 20m2, có nguồn gốc đất của bà Võ Thị X, bà C nhận chuyển nhượng của bà X vào năm 1996, 1998, việc sang nhượng đất với bà X chỉ viết giấy tay, không có làm hợp đồng chuyển nhượng QSD đất, đất do ông Lê Văn B đứng tên giấy chứng nhận QSD đất thuộc một phần thửa 1236. Khi sang nhượng đất bà C thỏa thuận ông D, bà N có trách nhiệm đến gặp ông B yêu cầu làm hợp đồng chuyển nhượng QSD đất cho ông D. Ngoài ra, trên phần đất này có 01 phần căn nhà bếp của bà P, bà C cho bà P cất nhà lấn sang diện tích là 2,1m2 vào năm 2000 cho đến nay.

Nay bà Nguyễn Thị C yêu cầu: Không thống nhất cùng ông B, bà V chuyển nhượng QSD đất diện tích 20m2(thực đo 19,4m2), thuộc một phần thửa 1236, tờ bản đồ số 03 cho ông D và bà N; Không thống nhất trả lại giá trị diện tích đất thiếu là 1,1m2 là 2,2 chỉ vàng 24kra cho ông D; Yêu cầu ông D, bà N trả lại giá trị diện tích đất dư là 02m2 thuộc một phần thửa 1849 là 04 chỉ vàng 24kra; Đối với diện tích đất 2,1m2 bà P đang sử dụng giao phần đất này cho bà P toàn quyền quyết định; Không thống nhất theo yêu cầu của ông B, bà V trả lại diện tích đất dư 04m2 với giá là 04 chỉ vàng 24kra, thuộc một phần thửa 1236, tờ bản đồ số 03.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị V và ông Lê Văn B, ông B ủy quyền cho bà V trình bày: Năm 1996 bà Võ Thị X là mẹ ruột của ông B có sang nhượng cho bà P, bà C mỗi người diện tích ngang 4m x dài 4m = 16m2, với giá là 04 chỉ vàng 24kra, thuộc một phần thửa 1236, tờ bản đồ số 03, do ông Lê Văn B đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, có làm giấy tay, bà X đã giao đất cho bà C, bà P sử dụng, xây dựng nhà để ở, nhưng chưa làm hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Hiện nay bà C sử dụng dư diện tích 04m2, bà P sử dụng diện tích dư 05m2 thuộc một phần thửa 1236 nêu trên.

Nay ông Lê Văn B và bà Nguyễn Thị V yêu cầu: Bà Nguyễn Thị C trả lại diện tích 04m2 với giá là 04 chỉ vàng 24kra; Yêu cầu bà Nguyễn Thị P trả lại diện tích 05m2 với giá là 05 chỉ vàng 24kra; Thống nhất chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho ông D, bà N, diện tích 19,4m2, thuộc một phần thửa 1236, tờ bản đồ số 03, do đất này trước đây bà X thỏa thuận mua bán với bà C, nay bà C đã chuyển cho ông D; Thống nhất chuyển quyền sử dụng diện tích 20m2, thuộc một phần thửa 1236, tờ bản đồ số 03 cho bà Nguyễn Thị P.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị P trình bày: Năm 1996 thì bà P có nhận chuyển nhượng đất của bà X, diện tích ngang 04 x dài 4,5m= 18m2, với giá đất là 4,5 chỉ vàng 24kra, làm giấy tay, hiện nay bà P đã sử dụng xây dựng nhà để ở, thuộc một phần thửa 1236, tờ bản đồ số 03, do ông Lê Văn B đứng tên giấy chứng nhận QSD đất. Năm 2000 bà C có cho bà P diện tích 2,1m2 để xây dựng nhà bếp, bà P có san lấp đá, cát để xây dựng nhà. Năm 2013 bà C và ông D, bà N thỏa thuận chuyển nhượng đất trong đó có diện tích 2,1m2 nêu trên của bà P, nhưng không có thông qua ý kiến của bà P.

Nay bà Nguyễn Thị P yêu cầu: Không thống nhất tháo dở, di dời một phần căn nhà bếp trả lại diện tích đất 2,1m2 cho ông D, do bà C đã cho bà P đất xây dựng nhà từ năm 2000; Không thống nhất trả 05 chỉ vàng 24kra cho ông B và bà V.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Lê Thị N trình bày: Là vợ của ông D, thống nhất lời trình bày của ông D và thống nhất theo yêu cầu của ông D.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Ủy ban nhân dân huyện Thanh Bình trình bày: Căn cứ Công văn số 198/UBND-NC ngày 04/4/2019 của UBND huyện cung cấp thông T3 như sau: Đối với phần đất diện tích ngang 0,25m x dài 10m = 2,5m2 tiếp giáp thửa 1849 là không đúng (thửa đúng là thửa 1565, tờ bản đồ số 03) mục đích sử dụng đất ONT, hiện nay do ông D quản lý sử dụng, không nằm cùng thửa 1849 là nằm thửa 1565. Nếu đủ điều kiện cấp giấy chứng nhận QSD đất thì phải thực hiện nghĩa vụ tài chính theo quy định. Đối với diện tích ngang 0,25m x dài 10m = 2,5m2 nêu trên người đang sử dụng đất là ông D là phù hợp; Căn cứ Công văn số 259/UBND-NC ngày 01/4/2021 của UBND huyện cung cấp thông tin: Thửa 1565, tờ bản đồ số 03, diện tích 40m2(T) do nhà nước phân lô bán nền. Theo sổ mục kê đang quản lý thửa 1565, tờ bản đồ số 03 ghi tên Nguyễn Thị C, đã được cấp giấy chứng nhận QSD đất số 2457/A4, cấp ngày 22/11/1998 do Nguyễn Thị C đứng tên. Số thửa theo bản đồ địa chính chính quy là một phần thửa 128, tờ bản đồ 137. Vị trí thửa đất 1565 theo sơ đồ quy hoạch chợ Tân TH như sau: Hướng đông giáp đường giao thông chợ Tân TH; Hướng Tây giáp Hẻm; Hướng Nam giáp nhà ông Mai Tuấn D đang ở; Hướng Bắc giáp thửa 1566 (Nguyễn Thị P). Thửa 1252, tờ bản đồ số 03, sổ mục kê ghi nhận (đất nhà lồng chợ, ghi bút chì) loại đất CDK (gồm nhà lồng chợ, khu vực phân lô bán nền chợ Tân TH, đất giao thông công cộng, hẻm..) do địa phương quản lý. Trước đây đã phân lô bán nền theo quy hoạch. Ghi nhận theo bản đồ địa chính (bản đồ 299) trước đây, thửa 1252 tiếp giáp với các thửa đất sau: Hướng Đông giáp các thửa 1242, 1243, 1244, 1251; Hướng tây giáp các thửa 1253, 1235, 1236, 1237, 1238, 1240; Hướng Nam giáp quốc lộ 30; Hướng Bắc giáp đướng bê tông. Đối với những nền nhà nước đã bán mà người dân đã thực hiện đầy đủ nghĩa vụ tài chính về đất đai theo quy định pháp luật thì được xem xét cấp giấy chứng nhận QSD đất. Phần đất từ vị trí 10 mét trở ra sau hậu theo sơ đồ quy hoạch chợ Tân TH giáp hẻm thuộc thửa 1252. Thửa 1565, tờ bản đồ số 03 theo mục 1 nêu trên. Riêng thửa 1252, tờ bản đồ số 03 Ủy ban nhân dân huyện Thanh Bình có ý kiến tại Công văn số 781/UBND-HC ngày 18/11/2016; Căn cứ Công văn số 1237/UBND-NC ngày 19/10/2021 của UBND huyện cung cấp thông tin như sau: Phần đất có diện tích 18,9m từ mốc 2, 3, 7, 5, 8, 9 về mốc 2 theo sơ đồ đo đạc ngày 07/7/2017 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện Thanh Bình. Hiện nay thuộc một phần thửa đất số 1252, tờ bản đồ số 03, sổ mục kê ghi nhận (đất nhà lồng chợ, ghi bút chì) loại đất CDK (gồm nhà lồng chợ, khu vực phân lô bán nền chợ Tân TH, đất giao thông công cộng, hẻm…) do địa phương quản lý.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Lương Hữu TH trình bày: Anh là con ruột của bà P, hiện nay có hộ khẩu chung với hộ bà P, việc tranh chấp giữa bà P, với ông D, bà C giao cho bà P quyết định, không có ý kiến.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Trần Thị Thoại M, Trần Thị Lê Thu T: Là cháu ruột của bà P, hiện nay có đăng ký hộ khẩu chung với bà Nguyễn Thị P, chị M, chị T không cung cấp văn bản ý kiến nên không ghi nhận được ý kiến của chị M, chị T.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Lê Thị Ngọc B; Anh Lê Quang H; chị Lê Thị M T1; chị Lê Thị T2; chị Lê Thị B Tin; chị Lê Thị Ngọc T4 trình bày: Anh chị là con ruột của ông B, bà V, hiện nay ông B và bà V tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng QSD đất với bà C, bà P, thống nhất ý kiến của ông B, bà V, không có ý kiến tranh chấp, thống nhất giao cho bà V, ông B toàn quyền quyết định.

- Tại phiên tòa nguyên đơn ông Mai Tuấn D và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Lê Thị Nga trình bày: Bà C đã chuyển nhượng QSD đất cho ông D, diện tích 40m2, thửa 1849, nhưng sai số thửa, thửa đúng là thửa 1565, đối với việc sai thửa đất ông D không có ý kiến và không yêu cầu Tòa án giải quyết; Đối với diện tích 20m2 còn lại bà C chưa chuyển nhượng QSD đất cho ông D, ông D xác định đất thuộc một phần thửa 1236 do hộ của ông Lê Văn B đứng tên giấy chứng nhận QSD đất, không phải thửa 1252 do địa phương quản lý, trên phần đất có 01 phần căn nhà bếp của bà P diện tích là 2,1m2 và diện tích 17,3m2 là ông D quản lý, thực đo là 19,4m2; Đối với việc định giá đất vào năm 2017 ông D không yêu cầu định giá lại do ông D giao vàng cho bà C nên yêu cầu bà C giao trả lại vàng.

Nay ông Mai Tuấn D yêu cầu: Bà C, bà V, ông B phải chuyển nhượng QSD đất diện tích 19,4m2 cho ông D thuộc một phần thửa 1236, tờ bản đồ số 03, do hộ ông Lê Văn B đang đứng tên giấy chứng nhận QSD đất; Yêu cầu bà P phải di dời, tháo dở một phần nhà bếp trên diện tích 2,1m2 để giao đất cho ông D thuộc một phần thửa 1236; Yêu cầu bà C phải trả lại 1,2 chỉ vàng 24kra do chuyển nhượng diện tích đất thiếu là 0,6m2, rút lại yêu cầu khởi kiện bổ sung ngày 12/01/2018 đối với diện tích 0,5m2 với giá trị là 01 chỉ vàng 24kra.

- Tại phiên tòa bị đơn bà Nguyễn Thị C trình bày: Vào năm 2013 bà C có thỏa thuận chuyển nhượng nhà và đất cho ông D ngang 4m x dài 15m, không có đo đạc thực tế, giao toàn bộ nhà đất cho ông D với giá là 120 chỉ vàng 24kra, trong đó diện tích 40m2, thửa 1849 bà C đã chuyển nhượng cho ông D, bà N xong. Diện tích 20m2, có nguồn gốc là đất của bà X nhận chuyển nhượng từ năm 1996, không có làm hợp đồng chuyển nhượng QSD đất. Bà C thỏa thuận chuyển nhượng sang tên giấy tờ tay cho ông D diện tích 20m2, ông D tự yêu cầu ông B, bà V làm hợp đồng chuyển nhượng đất này cho ông D. Năm 2000 bà C có cho bà P xây dựng 01 phần căn nhà bếp lấn qua phần đất bà C nhận chuyển nhượng của bà X diện tích 2,1m2.

Nay bà Nguyễn Thị C yêu cầu: Không thống nhất yêu cầu của ông D phải chuyển nhượng QSD đất diện tích 19,4m2 thuộc một phần thửa 1236, tờ bản đồ số 03, do ông Lê Văn B đứng tên giấy chứng nhận QSD đất, do bà C đã giao toàn bộ nhà và đất cho ông D quản lý theo hiện trạng; Thống nhất tự nguyện trả lại cho ông D 1,2 chỉ vàng 24kra đối với diện tích 0,6m2 thiếu theo yêu cầu của ông D; Không thống nhất yêu cầu khởi kiện của bà V, ông B về việc yêu cầu bà C trả lại 1,4 chỉ vàng 24kra; Thống nhất rút lại yêu cầu khởi kiện ngày 08/01/2018 về việc yêu cầu ông D, bà N trả lại 04 chỉ vàng 24kra ( diện tích 02m2); Đối với diện tích 2,1m2 phần đất bà P đang quản lý sử dụng bà C thống nhất giao cho bà P toàn quyền quản lý sử dụng, không có yêu cầu Tòa án giải quyết. Đối với việc bà C nhận chuyển nhượng QSD đất từ bà X diện tích 18m2 vào năm 1996 bà C không yêu cầu Tòa án giải quyết. Đối với việc định giá tài sản và đất không yêu cầu Tòa án định giá lại.

- Tại phiên tòa người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị P trình bày: Vào năm 2000 bà P có hỏi bà C cho xây dựng 01 phần nhà bếp qua phần đất của bà C nhận chuyển nhượng từ bà X diện tích 2,1m2, do là chị em ruột nên không có làm giấy tờ, bà P đã bơm cát, đá san lắp và xây dựng nhà như hiện nay. Vào năm 2013 ông D thỏa thuận nhận chuyển nhượng đất từ bà C, nhưng không thông báo cho bà P biết việc bà C chuyển nhượng luôn diện tích đất 2,1m2 do bà P quản lý sử dụng. Vào năm 1996-1997 bà P có thỏa thuận nhận chuyển nhượng đất của bà X diện tích ngang 4m x dài 4,5m = 18m2 (thực đo 20m2), có làm giấy tờ viết tay, không có làm hợp đồng chuyển nhượng đất, thuộc một phần thửa 1252 do nhà nước quản lý, không phải là đất của bà X và ông B.

- Nay bà Nguyễn Thị P yêu cầu: Không thống nhất yêu cầu của ông D, bà N tháo dở, di dời nhà trả lại diện tích đất 2,1m2 cho ông D, ba N. Không thống nhất trả lại 02 chỉ vàng 24kra cho ông B, bà V do đất của nhà nước quản lý không phải đất do ông B đứng tên giấy chứng nhận QSD đất. Đối với việc định giá tài sản và đất không yêu cầu định giá lại; Đối với việc bà P cải tạo, san lấp đất diện tích 2,1m2 không yêu cầu trả lại tiền cải tạo, san lấp, không yêu cầu ông D bồi thường chi phí di dời nhà nếu Tòa án buộc di dời nhà trả lại đất cho ông D. Đối với việc bà X chuyển nhượng đất cho bà P diện tích 18m2 nêu trên bà P không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Tại phiên tòa người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị V và là đại diện theo ủy quyền của ông Lê Văn B trình bày: Vào năm 1996 bà X là mẹ ruột của ông B có thỏa thuận chuyển nhượng QSD đất cho bà C, bà P diện tích ngang 4m x dài 4,5m = 18m2, với giá là 1 chỉ vàng/01m chiều ngang, 4m ngang là 04 chỉ vàng 24kra, thuộc một phần thửa 1236 do ông Lê Văn B đứng tên giấy chứng nhận QSD đất, nhưng chưa làm hợp đồng chuyển nhượng QSD đất.

Hiện nay bà P, bà C sử dụng đất dư so với thỏa thuận chuyển nhượng đất với bà X năm 1996, bà P dư 02m2, bà C dư 1,4m2, thuộc một phần thửa 1236, tờ bản đồ số 03, do hộ ông Lê Văn B đứng tên giấy chứng nhận QSD đất. Đối với việc UBND huyện cung cấp thông tin phần đất bà X chuyển nhượng cho bà C, bà P vào năm 1996 là thửa 1252 là không đúng.

Nay bà V, ông B yêu cầu: Bà C trả lại 1,4 chỉ vàng 24kra và bà P trả lại 02 chỉ vàng 24kra do chuyển nhượng diện tích đất dư nêu trên, bà V và ông B thống nhất chuyển nhượng QSD đất cho ông D diện tích 19,4m2 và bà P diện tích 20m2, thuộc một phần thửa 1236, tờ bản đồ số 03, nay là thửa 96, tờ bản đồ số 137, tọa lạc xã Tân TH, do hộ ông Lê Văn B đứng tên giấy chứng nhận QSD đất. Đối với việc định giá tài sản nhà và đất bà V không yêu cầu định giá lại.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Bình tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

- Về việc tuân theo pháp luật: Từ khi thụ lý vụ án đến thời điểm trước khi nghị án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định pháp luật tại Điều 70, 72, 73 BLTTDS năm 2015.

- Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 131 Bộ luật dân sự, không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Mai Tuấn D về việc yêu cầu bà Nguyễn Thị C trả giá trị đất cho ông D còn thiếu so với thỏa thuận mua bán diện tích 0,6m2 và buộc bà Nguyễn Thị P di dời mái che nhà bếp, trả lại diện tích 2,1m2 cho gia đình ông. Đình chỉ yêu cầu phản tố của bà Nguyễn Thị C đối với hộ gia đình ông D trả đất thửa 1565, tờ bản đồ số 03, diện tích 02m2. Chấp nhận sự tự nguyện của bà Nguyễn Thị C trả lại cho ông D số vàng 1,2 chỉ vàng 24kra. Không chấp nhận yêu cầu độc lập của ông Lê Văn B, bà Nguyễn Thị V về việc yêu cầu bà Nguyễn Thị C trả lại cho ông bà giá trị đất mà bà C sử dụng dư so với thỏa thuận mua bán là 1,6m2 với giá 01 chỉ vàng 24kra/m2 = 1,6 chỉ vàng 24kra và yêu cầu bà Nguyễn Thị P trả lại cho ông bà giá trị đất mà bà P sử dụng dư so với thỏa thuận mua bán là 02m2 với giá 01 chỉ vàng 24kra/m2 = 02 chỉ vàng 24kra.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử xét thấy:

Về tố tụng:

Về thẩm quyền giải quyết: Đất tranh chấp và nơi cư trú của nguyên đơn, bị đơn tại xã Tân TH, huyện Thanh Bình, nguyên đơn khởi kiện tại Tòa án nơi có đất tranh chấp và nơi bị đơn cư trú, nên thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a, c khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về Việc vắng mặt của đương sự: Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh H, chị M, chị T, chị B, anh H, chị T1, chị T2, chị Tin, chị T4, ông Đ vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt. Hội đồng xét xử xét thấy các đương sự nêu trên vắng mặt đều có đơn xin xét xử vắng mặt nên việc vắng mặt của những đương sự này không gây trở ngại cho việc xét xử nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự nêu là phù hợp và đúng theo quy định tại khoản 1 Điều 227, Điều 228 và điểm b khoản 1 Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Về quan hệ pháp luật:

Nguyên đơn ông D yêu cầu bà C, ông B, bà V phải chuyển nhượng quyền sử dụng đất diện tích 19,4m2 và yêu cầu bà P phải tháo dở, di dời 01 phần căn nhà bếp diện tích 2,1m2, yêu cầu bà C trả lại giá trị đất chuyển nhượng còn thiếu diện tích 0,6m2 với giá là 1,2 chỉ vàng 24kra, đất thuộc một phần 1236 tờ bản đồ số 03, tọa lạc xã Tân TH, được UBND huyện cấp giấy chứng nhận QSD đất cho hộ ông Lê Văn B (Nay là thửa 96, tờ bản đồ số 137).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lê Văn B và bà Nguyễn Thị V yêu cầu bà C trả lại giá trị đất chuyển nhượng dư diện tích là 1,4m2 với giá là 1,4 chỉ vàng 24kra. Yêu cầu bà Nguyễn Thị P trả lại giá trị diện tích đất dư là 02m2, với giá là 02 chỉ vàng 24kra và thống nhất chuyển nhượng QSD đất cho ông D, bà N diện tích 19,4m2, bà P diện tích 20m2, thuộc một phần thửa 1236, tờ bản đồ số 03, tọa lạc xã Tân TH, do hộ ông Lê Văn B đứng tên giấy chứng nhận QSD đất (nay thuộc thửa 96, tờ bản đồ 137).

Nên phát sinh tranh chấp Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, Tòa án huyện thụ lý giải quyết vụ án theo quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về pháp luật áp dụng: Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, trên cơ sở Tờ sang nhà viết tay ngày 04/6/2013 và phát sinh tranh chấp vào năm 2016, nên áp dụng quy định Bộ luật Dân sự năm 2015 và Luật Đất đai năm 2013 để giải quyết.

Về nội dung vụ án:

[3.1.] Đối với yêu cầu khởi kiện của ông D yêu cầu bà C, ông B, bà V phải chuyển nhượng quyền sử dụng đất diện tích 19,4m2, yêu cầu bà P phải tháo dở, di dời 01 phần căn nhà bếp diện tích 2,1m2, yêu cầu bà C trả lại giá trị đất chuyển nhượng còn thiếu diện tích 0,6m2 với giá là 1,2 chỉ vàng 24kra, đất thuộc một phần 1236 tờ bản đồ số 03, tọa lạc xã Tân TH, được UBND huyện cấp giấy chứng nhận QSD đất cho hộ ông Lê Văn B (Nay là thửa 96, tờ bản đồ số 137), Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Ông D khởi kiện bà C, ông B, bà V căn cứ vào Tờ sang nhà ngày 04/6/2013, bà C chưa sang tên chuyển nhượng phần đất diện tích 20m2 (thực đo 19,4m2) và bà C thừa nhận có chuyển nhượng cho ông D toàn bộ diện tích nhà và đất nêu trên và đã nhận đủ số vàng là 120 chỉ.

Căn cứ Công văn số 1237/UBND-NC ngày 19/10/2021 của UBND huyện cung cấp thông tin như sau: Phần đất diện tích 20m2, thuộc một phần thửa đất số 1252, tờ bản đồ số 03, sổ mục kê ghi nhận (đất nhà lồng chợ, ghi bút chì) loại đất CDK (gồm nhà lồng chợ, khu vực phân lô bán nền chợ Tân TH, đất giao thông công cộng, hẻm…) do địa phương quản lý.

Căn cứ Sơ đồ đo đạc ngày 03/12/2021 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện Thanh Bình xác định, phần đất nêu trên có diện tích thực đo là 19,4m2, trong đó 17,3m2, thuộc một phần thửa 1252, tờ bản đồ 03 (theo Bản đồ địa chính chính quy là một phần thửa 128, tờ bản đồ 137) do ông D quản lý và diện tích 2,1m2 thuộc một phần thửa 1252, tờ bản đồ số 03 (Bản đồ địa chính chính quy là thửa 123, tờ bản đồ 137), do bà P quản lý có một phần nhà bếp của bà P kết cấu mái tol, xây tường, nền lót gạch bông, xà gồ kẻm.

Từ đó, có đủ căn cứ xác định phần đất ông D, bà N nhận chuyển nhượng của bà C vào năm 2013, diện tích 20m2, thuộc một phần thửa 1252, tờ bản đồ số 03 (bản đồ 299), nay là một phần thửa 128, 123, tờ bản đồ số 137 (bản đồ địa chính chính quy) do địa phương quản lý, không phải là thửa 1236, tờ bản đồ số 03 do ông Lê Văn B đứng tên giấy chứng nhận QSD đất như lời trình bày của ông D.

Do phần đất chuyển nhượng giữa ông D và bà C nêu trên là đất của nhà nước do địa phương quản lý, nên chưa được cấp giấy chứng nhận QSD đất, chưa đủ điều kiện chuyển nhượng QSD đất theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 188 Luật đất đai năm 2013. Vì vậy Hợp đồng chuyển nhượng QSD đất giữa ông D, bà N và bà C đối với diện tích đất nêu trên vô hiệu do vi phạm điều cấm của luật, theo quy định tại Điều 123 Bộ luật dân sự và bà C phải có trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho ông Mai Tuấn D đối với hợp đồng chuyển nhượng QSD đất vô hiệu theo quy định tại Điều 131 Bộ luật dân sự.

Tuy nhiên, căn cứ Công văn số 258/UBND-NC ngày 16/3/2022 của UBND huyện với nội dung phần đất thuộc một phần thửa 1252, tờ bản đồ số 03 do địa phương quản lý, người đang quản lý sử dụng đất nếu đủ điều kiện theo quy định của luật đất đai thì được xét cấp giấy chứng nhận QSD đất và nộp tiền sử dụng đất theo quy định pháp luật tại thời điểm cấp giấy. Vì vậy, đối với diện tích 17,3m2 hiện nay ông D đang quản lý sử dụng, trong phạm vi các mốc 02, 02’, 07, 06, 04, 03 về mốc 02, thuộc một phần thửa 1252, tờ bản đồ số 03 (bản đồ địa chính chính quy là một phần thửa 128, tờ bản đồ 137), ông D, bà N có quyền đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền đăng ký cấp giấy chứng nhận QSD đất và nộp tiền sử dụng đất theo quy định và bà C có trách nhiệm trả lại tiền sử dụng đất cho ông D, bà N khi ông D, bà N được cấp giấy chứng nhận QSD đất, do bà C đã nhận đủ số vàng chuyển nhượng đất từ ông D, nhưng chưa thực hiện việc chuyển nhượng QSD đất cho ông D do đất chưa được cấp giấy chứng nhận QSD đất là lỗi của bà C.

Ngoài ra, UBND huyện không cung cấp thông tin rõ số tiền sử dụng đất cụ thể là bao nhiêu tại thời điểm xét xử nên chưa có căn cứ buộc bà C có trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho ông D, bà N là trả lại tiền sử dụng đất cho ông D, bà N trong vụ kiện này, ông D, bà N có quyền khởi kiện bà C khi đã kê khai, đăng ký cấp giấy chứng nhận QSD đất và nộp tiền sử dụng đất cho nhà nước bằng vụ kiện khác khi có yêu cầu.

Vì vậy, Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Mai Tuấn D về việc yêu cầu bà C, ông B, bà V phải chuyển nhượng quyền sử dụng đất diện tích 19,4m2, yêu cầu bà P phải tháo dở, di dời 01 phần căn nhà bếp diện tích 2,1m2.

Đối với yêu cầu bà C trả lại giá trị đất chuyển nhượng còn thiếu diện tích 0,6m2 với giá là 1,2 chỉ vàng 24kra, tại phiên tòa bà C thống nhất tự nguyện trả lại cho ông D, bà N 1,2 chỉ vàng 24kra nên Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện của bà C, buộc bà C có trách nhiệm trả lại cho ông D, bà N 1,2 chỉ vàng 24kra.

[3.2.] Đối với yêu cầu khởi kiện của ông D yêu cầu bà C trả lại 01 chỉ vàng 24kra đối với diện tích đất chuyển nhượng thiếu là 0,5m2, thuộc một phần thửa 1236, tờ bản đồ số 03.

Tại phiên tòa ông D không yêu cầu và tự nguyện rút lại yêu cầu khởi kiện nêu trên, do đây là sự tự nguyện của nguyên đơn nên Hội đồng xét xử chấp nhận và đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn theo quy định tại điều 214 Bộ luật tố tụng dân sự.

[3.3.] Đối với yêu cầu khởi kiện phản tố của bà Nguyễn Thị C yêu cầu ông Mai Tuấn D và bà Lê Thị N trả lại giá trị diện tích đất chuyển nhượng dư là 2m2 (thực đo là 1,7m2) thuộc một phần thửa 1849, với giá trị là 04 chỉ vàng 24kra.

Tại phiên tòa bà C tự nguyện rút lại yêu cầu khởi kiện phản tố nêu trên, do đây là sự tự nguyện của bị đơn nên Hội đồng xét xử chấp nhận và đình chỉ yêu cầu khởi kiện phản tố của bị đơn theo quy định tại điều 214 Bộ luật tố tụng dân sự.

[3.4.] Đối với yêu cầu khởi kiện ông Lê Văn B và bà Nguyễn Thị V yêu cầu bà C trả lại giá trị đất chuyển nhượng dư diện tích là 1,4m2 với giá là 1,4 chỉ vàng 24kra. Yêu cầu bà Nguyễn Thị P trả lại giá trị diện tích đất dư là 02m2, với giá là 02 chỉ vàng 24kra và thống nhất chuyển nhượng QSD đất cho ông D, bà N diện tích 19,4m2, bà P diện tích 20m2, thuộc một phần thửa 1236, tờ bản đồ số 03, tọa lạc xã Tân TH, do hộ ông Lê Văn B đứng tên giấy chứng nhận QSD đất (nay thuộc thửa 96, tờ bản đồ 137).

Căn cứ Công văn số 1237/UBND-NC ngày 19/10/2021 của UBND huyện và Sơ đồ đo đạc của Văn phòng đăng ký đất đai chi nhánh huyện Thanh Bình xác định phần đất tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng QSD đất giữa ông D, bà C và bà P, ông B, bà V thuộc một phần thửa đất số 1252, tờ bản đồ số 03, sổ mục kê ghi nhận (đất nhà lồng chợ, ghi bút chì) loại đất CDK (gồm nhà lồng chợ, khu vực phân lô bán nền chợ Tân TH, đất giao thông công cộng, hẻm…) do địa phương quản lý (Theo bản đồ địa chính chính quy là thuộc một phần thửa 128, 123, tờ bản đồ số 137). Vì vậy đối với phần đất tranh chấp Hợp đồng chuyển nhượng QSD đất giữa bà V, ông B và bà C, bà P không thuộc thửa 1236 như lời trình bày của bà V, ông B mà thuộc một phần thửa 1252, tờ bản đồ số 03 do nhà nước quản lý. Ngoài ra bà V, ông B không cung cấp thêm tài liệu chứng cứ nào khác để chứng minh cho yêu cầu khởi kiện của ông bà là có căn cứ, nên Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Lê Văn B và bà Nguyễn Thị V đối với yêu cầu buộc bà C trả lại 1,4 chỉ vàng 24kra và bà P trả lại 02 chỉ vàng 24kra.

[4.] Đối với phần đất thuộc một phần thửa 1252 (nay thuộc một phần thửa 128, 123, tờ bản đồ số 137) bà C và bà P nhận chuyển nhượng từ bà Võ Thị X vào năm 1996-1998, mỗi người diện tích 18m2, hiện nay bà C đã chuyển nhượng cho ông D diện tích 17,3m2, bà P sử dụng diện tích 20m2, bà C và bà P không có yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[5.] Đối với phần đất thuộc một phần thửa 1252 (nay thuộc một phần thửa 123, tờ bản đồ số 137), diện tích 2,1m2 bà C cho bà P xây dựng 01 phần căn nhà bếp, bà P không thống nhất trả lại, không có yêu cầu bồi thường chi phí di dời nhà, chi phí san lấp, cải tạo đất và bà C không yêu cầu bà P trả lại đất, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[6.] Đối với việc định giá lại tài sản nhà và đất, nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu định giá lại nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[7.] Đối với diện tích đất 40m2, thửa 1849 bà C đã chuyển nhượng cho ông D không đúng thửa, thửa đúng là thửa 1565, bà C và ông D không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[8.] Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị B, anh H, chị T1, chị Thơ, chị T3, chị T4 là thành viên hộ gia đình của ông Lê Văn B, bà Nguyễn Thị V do đất tranh chấp không thuộc quyền sử dụng đất của hộ ông Lê Văn B nên không có liên quan, Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

[9.] Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh H, chị T, chị M là thành viên hộ gia đình của bà Nguyễn Thị P, do không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông D, nên không ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của các anh chị, nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

[10.] Về chi phí tố tụng: Căn cứ khoản 1 Điều 157, khoản 1 Điều 165 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Nguyên đơn ông Mai Tuấn D không được chấp nhận yêu cầu khởi kiện, nên ông D phải chịu 600.000đ chi phí định giá tài sản và ½ chi phí đo đạc là 890.500đ, tổng cộng là 1.490.500đ (Một triệu, bốn trăm chín mươi nghìn, năm trăm đồng) chi phí tố tụng, ông D đã nộp và chi xong.

Bị đơn bà C, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà P không phải chịu chi phí tố tụng.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lê Văn B, bà Nguyễn Thị V phải chịu ½ chi phí đo đạc là 890.5000đ, do ông D đã nộp và chi xong, nên ông B, bà V có trách nhiệm trả lại cho ông D số tiền 890.500đ (Tám trăm, chín mươi nghìn năm trăm đồng).

[11.] Về án phí: Căn cứ khoản 1 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Căn cứ khoản 1, 3, 4 Điều 27 Pháp lệnh án phí, lệ phí Tòa án số 10/2009/UBTVQH12 ngày 27/02/2009 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội; Căn cứ Điều 48, điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 1, 6 Điều 26 và điểm a, b khoản 3 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội.

Nguyên đơn ông Mai Tuấn D phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch, do yêu cầu cầu khởi kiện Hợp đồng chuyển nhượng QSD đất không được chấp nhận, nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí số BN-2013- 07447, ngày 30/12/2016 với số tiền là 900.000đ (Chín trăm nghìn đồng) và Biên lai thu tạm ứng án phí số BH-2017- 0004398, ngày 26/10/2018 với số tiền là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng), tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp. Hoàn trả lại cho ông Mai Tuấn D số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 1000.000đ (Một triệu đồng).

Bị đơn bà Nguyễn Thị C phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với 1,2 chỉ vàng 24kra bà C thống nhất trả lại cho ông D giá vàng là 5.470.000đ x 1,2 chỉ = 6.564.000đ x 5% = 328.000đ (Ba trăm hai mươi tám nghìn đồng), nhưng do bà C là người cao tuổi (77 tuổi) nên được miễn toàn bộ tiền án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội. Hoàn trả cho bà Nguyễn Thị C toàn bộ số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 330.000đ (Ba trăm ba mươi nghìn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí số BO/2014-0219 ngày 08/01/2018, tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lê Văn B và bà Nguyễn Thị V phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với 3,4 chỉ vàng 24kra yêu cầu bà C, bà P trả lại không được chấp nhận giá vàng là 5.470.000đ x 3,4 chỉ = 18.598.000đ x 5% = 929.900đ (Chín trăm hai mươi chín nghìn chín trăm đồng), nhưng do ông B (70 tuổi), bà V (68 tuổi) là người cao tuổi nên được miễn toàn bộ tiền án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội. Hoàn trả cho ông Lê Văn B, bà Nguyễn Thị V toàn bộ số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 742.000đ (Bảy trăm bốn mươi hai nghìn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí số BN/2013-14218 ngày 24/5/2017, tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị P không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

[12.] Xét quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử như nhận định nêu trên, do đó được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a, c khoản 1 Điều 39, khoản 3 Điều 26, khoản 1 Điều 227, Điều 228 và điểm b khoản 1 Điều 238, Điều 214, khoản 1 Điều 147, khoản 1 Điều 157, khoản 1 Điều 165 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 188 Luật đất đai năm 2013;

Căn cứ Điều 123, 131 Bộ luật dân sự năm 2015.

Căn cứ khoản 1, 3, 4 Điều 27 Pháp lệnh án phí, lệ phí Tòa án số 10/2009/UBTVQH12 ngày 27/02/2009 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội.

Căn cứ Điều 48, điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 1, 6 Điều 26 và điểm a, b khoản 3 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội, tuyên xử:

1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Mai Tuấn D đối với bà Nguyễn Thị C, ông Lê Văn B, bà Nguyễn Thị V, bà Nguyễn Thị P về việc yêu cầu bà Nguyễn Thị C, ông Lê Văn B, bà Nguyễn Thị V phải chuyển nhượng quyền sử dụng đất diện tích 19,4m2 và yêu cầu bà Nguyễn Thị P phải tháo dở, di dời 01 phần căn nhà bếp diện tích 2,1m2.

Ông Mai Tuấn D và bà Lê Thị N được sử dụng phần đất diện tích 17,3m2 trong phạm vi các mốc 02, 03, 04, 05, 06, 07, 02’ trở về 02, tại một phần thửa 1252, tờ bản đồ số 03 (bản đồ địa chính chính quy là một phần thửa 128, tờ bản đồ số 137), tọa lạc xã Tân TH, huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp, chưa được cấp giấy chứng nhận QSD đất.

Ông Mai Tuấn D, bà Lê Thị N được quyền đến cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để làm thủ tục kê khai, đăng ký cấp giấy chứng nhận QSD đất theo quy định của pháp luật.

(Kèm Biên bản xem xét, thẩm định tại chổ ngày 03/12/2021 của Tòa án nhân dân huyện Thanh Bình; Sơ đồ đo đạc ngày 03/12/2021 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện Thanh Bình).

2. Buộc bà Nguyễn Thị C có trách nhiệm trả cho ông Mai Tuấn D, bà Lê Thị N 1,2 chỉ (Một chỉ, hai phân) vàng 24 kra.

3. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện độc lập của ông Lê Văn B và bà Nguyễn Thị V về việc yêu cầu bà Nguyễn Thị C trả lại 1,4 chỉ (Một chỉ, bốn phân) vàng 24kra và yêu cầu bà Nguyễn Thị P trả lại 02 chỉ (Hai) vàng 24kra.

4. Đình một phần yêu cầu khởi kiện bổ sung của ông Mai Tuấn D yêu cầu bà Nguyễn Thị C trả lại 01(Một) chỉ vàng 24kra đối với diện tích đất chuyển nhượng thiếu là 0,5m2, thuộc một phần thửa 1236, tờ bản đồ số 03.

5. Đình chỉ yêu cầu khởi kiện phản tố của bà Nguyễn Thị C về việc yêu cầu ông Mai Tuấn D và bà Lê Thị N trả lại giá trị diện tích đất chuyển nhượng dư là 2m2 (thực đo là 1,7m2) thuộc một phần thửa 1849, với giá trị là 04 (Bốn) chỉ vàng 24kra.

6. Về chi phí tố tụng: Căn cứ khoản 1 Điều 157, khoản 1 Điều 165 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Nguyên đơn ông Mai Tuấn D phải chịu 1.490.500đ (Một triệu, bốn trăm chín mươi nghìn, năm trăm đồng) chi phí tố tụng, ông D đã nộp và chi xong.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lê Văn B, bà Nguyễn Thị V có trách nhiệm trả lại cho ông Mai Tuấn D 890.500đ (Tám trăm chín mươi nghìn, năm trăm đồng) chi phí tố tụng.

7. Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ khoản 1 Điều 147; Căn cứ khoản 1, 3, 4 Điều 27 Pháp lệnh án phí, lệ phí Tòa án số 10/2009/UBTVQH12 ngày 27/02/2009 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội; Căn cứ Điều 48, điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 1, 6 Điều 26 và điểm a, b khoản 3 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội.

Nguyên đơn ông Mai Tuấn D phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí số BN-2013- 07447, ngày 30/12/2016 với số tiền là 900.000đ (Chín trăm nghìn đồng) và Biên lai thu tạm ứng án phí số BH-2017-0004398, ngày 26/10/2018 với số tiền là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng), tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp. Hoàn trả lại cho ông Mai Tuấn D số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 1000.000đ (Một triệu đồng).

Bị đơn bà Nguyễn Thị C phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 328.000đ (Ba trăm hai mươi tám nghìn đồng), nhưng do bà C là người cao tuổi (77 tuổi) nên được miễn toàn bộ tiền án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội. Hoàn trả cho bà Nguyễn Thị C toàn bộ số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 330.000đ (Ba trăm ba mươi nghìn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí số BO/2014-0219 ngày 08/01/2018, tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lê Văn B và bà Nguyễn Thị V phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 929.900đ (Chín trăm hai mươi chín nghìn chín trăm đồng), nhưng do ông B (70 tuổi), bà V (68 tuổi) là người cao tuổi nên được miễn toàn bộ tiền án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội. Hoàn trả cho ông Lê Văn B, bà Nguyễn Thị V toàn bộ số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 742.000đ (Bảy trăm bốn mươi hai nghìn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí số BN/2013-14218 ngày 24/5/2017, tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp.

Các đương sự có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (ngày 28/4/2022). Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.

Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7,7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ