vanban.org

Bản án 35/2021/HSST — Hình sự

TAND TX. Long Khánh, tỉnh Đồng Nai Tuyên án 16/04/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Trực Quốc H phạm tội “Trộm cắp tài sản”

Xử phạt bị cáo Nguyễn Trực Quốc H 10 (mười) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 10 tháng 3 năm 2021. Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Trực Quốc H - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Trực Quốc H phạm tội “Trộm cắp tài sản”
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ LONG KHÁNH
TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 35/2021/HSST.
Ngày: 16/4/2021

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG KHÁNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa: Bà Trương Thị Mỹ Lệ.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Trường Thọ

2. Ông Hoàng Thanh Tâm

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Thành - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Long Khánh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Khánh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Khánh - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 4 năm 2021, Tòa án nhân dân thành phố Long Khánh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 23/2021/TLST-HS ngày 22 tháng 3 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 33/2021/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 4 năm 2021 đối với bị cáo:

Nguyễn Trực Quốc H (Tên gọi khác: Bi), sinh năm 1997 tại Đồng Nai. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Ấp X, xã Y, thành phố Long Khánh, tỉnh Đồng Nai; Nơi cư trú: như thường trú; Trình độ học vấn: 7/12; Nghề nghiệp: Không; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Phật giáo; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lê Văn Tr; Sinh năm: 1967 và Nguyễn Thị Mai H; Sinh năm: 1966; Vợ: Trần Thị Kim Ng; Sinh năm: 1998, con: có 01 con sinh năm 2017; Tiền án: Không; Tiền sự: Không, Nhân thân: Ngày 24/02/2014, bị Tòa án nhân dân thị xã Long Khánh (nay là thành phố Long Khánh) xử 08 tháng tù về tội ”Trộm cắp tài sản” , chấp hành xong hình phạt ngày 28/02/2015. Bắt tạm giam từ ngày 10/3/2021.

(Bị cáo có mặt tại phiên tòa)

- Người tham gia tố tụng khác:

- Ngƣời bị hại: bà Hoàng Thị Bạch T, sinh năm 1968 (Vắng mặt)

Địa chỉ: ấp X, xã Y, thành phố Long Khánh, tỉnh Đồng Nai.

- Ngƣời có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

+ Anh Hoàng Hữu T, sinh năm 1985 (Vắng mặt)

Địa chỉ: ấp X, xã Y, huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 15 giờ ngày 30/9/2020, H đi bộ ngang qua nhà bà Hoàng Thị Bạch T, sinh năm 1968, ngụ tại ấp X, xã Y, thành phố Long Khánh, tỉnh Đồng Nai thì thấy cửa trước nhà đã khóa ngoài nên nảy sinh ý định đột nhập vào nhà trộm cắp tài sản. H đi vào con hẻm phía bên cạnh nhà, leo qua hàng rào lưới B40 vào phía sau nhà. Lúc này cửa sau nhà đã đóng và cài chốt bên trong, gần chốt cửa có sẵn 01 lỗ nên H thò tay vào bên trong và mở được chốt khóa ra. Khi vào nhà thấy còn 01 cửa khóa bên trong nên H dùng 01 cây kéo màu xanh đen để ở gốc cây chôm chôm cắt 01 lỗ trên cửa, thò tay vào và mở khóa cửa ra.

H đi vào bên trong phòng ngủ lấy trộm được 01 Laptop nhãn hiệu Sony, 01 Macbook nhãn hiệu Apple, 01 Ipad nhãn hiệu Sony, tiếp tục lục tủ đầu giường lấy 01 lắc tay bằng vàng. H đi ra phòng khách, lấy 01 chiếc chìa khóa xe treo trên tường mở cốp xe máy Sh Mode, lục lọi tìm kiếm nhưng không có tài sản gì. H cầm số tài sản đã trộm cắp được cùng cây kéo đưa về nhà của H tại ấp X, xã Y, thành phố Long Khánh, tỉnh Đồng Nai cất giấu.

Sau đó, H gọi điện thoại cho Hoàng Hữu Th, sinh năm 1985, ngụ tại ấp X, xã Y, huyện Cẩm Mỹ, tỉnh Đồng Nai là chủ cửa hàng mua bán điện thoại Hoàng Thọ để bán số tài sản đã trộm cắp được. Khoảng 30 phút sau, Th đến nhà H xem tài sản và có hỏi nguồn gốc tài sản thì H nói người quen gửi bán nên Th đồng ý mua 01 Laptop nhãn hiệu Sony, 01 Macbook nhãn hiệu Apple, 01 Ipad nhãn hiệu Sony với giá 1.500.000 đồng. Đến ngày 01/10/2020, Cơ quan cảnh sát điều tra mời H về làm việc, H khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình và giao nộp lắc vàng cho cơ quan Công an.

Vật chứng thu giữ gồm: 01 Laptop nhãn hiệu Sony, 01 Macbook nhãn hiệu Apple, 01 Ipad nhãn hiệu Sony, 01 lắc tay bằng vàng, hiện Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Long Khánh đã trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp là bà T; 01 cây kéo tỉa cành màu xanh, bà T khai đây không phải là tài sản của bà.

Tại bản kết luận định giá tài sản 122/HĐĐGTTTHS ngày 14/10/2020, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Long Khánh kết luận:

01 thiết bị điện tử Ipad-A1490, đã qua sử dụng (thời điểm ngày 30/9/2020), có giá trị: 2.000.000 đồng;

01 thiết bị điện tử Macbook-Air, đã qua sử dụng, (thời điểm ngày 30/9/2020), có giá trị: 7.000.000 đồng;

01 máy tính xách tay hiệu Sony-Vaio, đã qua sử dụng, (thời điểm ngày 30/9/2020), có giá trị: 2.000.000 đồng;

01 lắc tay bằng vàng 18K, trọng lượng 03 chỉ, 32 phân (thời điểm ngày 30/9/2020), có giá trị: 9.960.000 đồng.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo H không có ý kiến hay khiếu nại gì về kết luận định giá tài sản 122/HĐĐGTTTHS ngày 14/10/2020, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Long Khánh.

Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại đã nhận lại toàn bộ tài sản bị trộm cắp nên không có yêu cầu gì. Người liên quan là Hoàng Hữu Th tự nguyện giao nộp toàn bộ tài sản đã mua và được H hoàn lại số tiền 1.500.000 đồng nên không có yêu cầu gì.

Tại bản cáo trạng số 27/CT-VKS-LK ngày 17/3/2021, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Khánh truy tố bị cáo Nguyễn Trực Quốc H về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51 bộ luật hình sự xử phạt bị cáo H từ 10 đến 12 tháng tù.

Về dân sự: đã giải quyết xong nên không xem xét. Về vật chứng: đề nghị tịch thi tiêu hủy 01 cây kéo.

Những người tham gia tố tụng đồng ý đối với quyết định truy tố của Viện kiểm sát.

Trước khi Hội đồng xét xử nghị án, bị cáo nói lời sau cùng: bị cáo hối hận về hành vi của mình, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra công an thành phố Long Khánh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Khánh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Bị cáo và những người tham gia tố tụng khác khẳng định khai báo tự nguyện, không ai ép buộc. Do đó các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về tội danh và điều luật áp dụng: Tại phiên tòa, bị cáo H khai nhận vào khoảng 15 giờ ngày 30/9/2020, bị cáo đã có hành vi lén lút đột nhập vào nhà bà T lấy các tài sản gồm 01 Ipad-A1490, 01 Macbook-Air, 01 máy tính xách tay hiệu Sony-Vaio; 01 lắc tay bằng vàng 18K trọng lượng 03 chỉ, 32 phân, tổng giá trị tài sản bị chiếm đoạt là 20.960.000 đồng.

Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với nội dung bản cáo trạng, các tài liệu, chứng cứ khác đã được thu thập trong hồ sơ vụ án. Hành vi của bị cáo H đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017.

Đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội: bị cáo là công dân có đủ nhận thức và năng lực, do không muốn lao động mà vẫn có tiền tiêu xài nên đã trộm cắp tài sản của người bị hại. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác, gây mất an ninh trật tự tại địa phương. Bản thân bị cáo là người có sức khỏe nhưng lười lao động, không nghề nghiệp, trong thời gian điều tra, truy tố bị cáo H lại tiếp tục thực hiện hành vi trộm cắp tài sản nên cần áp dụng mức hình phạt tù nghiêm tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo nhằm răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung

Tình tiết tăng nặng: không có.

Tình tiết giảm nhẹ: bị cáo thành khẩn khai báo (quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS).

Về trách nhiệm dân sự: bà T đã nhận lại tài sản bị trộm cắp, không yêu cầu gì thêm về dân sự nên không xem xét.

Anh Th đã nhận lại số tiền 1.500.000 đồng mua tài sản trộm cắp, không yêu cầu gì thêm nên không xem xét.

Về vật chứng, xử lý vật chứng: 01 cây kéo màu xanh đen là công cụ, phương tiện phạm tội không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.

Các vấn đề khác: anh Hoàng Hữu Th không biết tài sản mua từ Hưng là do trộm cắp mà có nên không xem xét xử lý hình sự.

Về án phí: bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí HSST.

Quan điểm của Viện kiểm sát thành phố Long Khánh phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Trực Quốc H phạm tội “Trộm cắp tài sản”

- Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Trực Quốc H 10 (mười) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 10 tháng 3 năm 2021.

- Áp dụng nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Nguyễn Trực Quốc H phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ./.

Cỡ chữ