- Tranh chấp gì? án hình sự — "Vụ án hình sự đối với bị cáo Nguyễn Văn K - phạm tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản (điều 178 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của…"
- Tòa quyết gì? Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ PHÚ THỌ TỈNH PHÚ THỌ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 35/2021/HS-ST Ngày 09 - 7 - 2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ PHÚ THỌ - TỈNH PHÚ THỌ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hà Thu Hiền
Các Hội thẩm nhân dân:
1.Bà Nguyễn Thị Ngát
2.Ông Ngô Quang Vinh
- Thư ký phiên tòa: Bà Phùng Thị Hoàng Quyên - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ tham gia phiên tòa: Ông Lê Trung Kiên - Kiểm sát viên thực hành quyền công tố, kiểm sát xét xử tại phiên tòa.
Ngày 09 tháng 7 năm 2021, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 31/2021/TLST-HS ngày 28 tháng 5 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 33/2021/QĐXXST-HS ngày 25 tháng 6 năm 2021 đối với bị cáo:
Nguyễn Văn K - sinh ngày 09 tháng 9 năm 1979 tại huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định; Nơi ĐKNKTT và chỗ ở hiện nay: Xóm 3 P, xã H, huyện H, tỉnh Nam Định; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ học vấn: 02/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn K - sinh năm 1947 và bà Bùi Thị H - sinh năm 1951; bị cáo có vợ là Trần Thị M - sinh năm 1977 và 02 con, con lớn sinh năm 2001, con nhỏ sinh năm 2010; tiền sự: Không; tiền án: Không; nhân thân: Tại bản án hình sự phúc thẩm số 72 ngày 12 tháng 4 năm 2004 của Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa xử phạt 12 tháng tù về tội: “Trộm cắp tài sản”, bị cáo chấp hành xong bản án; Tại bản án số 110/2014/HSST ngày 19/9/2014 của Tòa án nhân dân quận N, thành Phố Hà Nội xử phạt 24 tháng tù về tội: “Trộm cắp tài sản”, bị cáo đã chấp hành xong bản án. Bị cáo bị tạm giữ ngày 01/3/2021, chuyển tạm giam ngày 04/3/2021. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Phú Thọ. (Có mặt).
+Bị hại: Chị Trần Thị T - sinh năm 1976. Trú tại: Khu V, xã V, thị xã P, tỉnh Phú Thọ. (Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt).
+Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Công ty cổ phần đầu tư và thương mại Thanh N.
Địa chỉ: Số 92, phố B, phường B, quận H, thành phố Hà Nội.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Lâm Viết H - Chức vụ: Giám đốc
Người đại diện theo ủy quyền: Anh Phạm Đức A - sinh năm 1997
Trú tại: Số 28B, tổ 30, khu LĐ P, Thanh L, H, thành phố Hà Nội. (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Tháng 7/2020, Nguyễn Văn K có quen biết và làm lái xe ô tô Biển kiểm soát 19A-318.46 (số khung: 69YDJH952707, số máy: 4D3181480006) kinh doanh chở khách cho chị Trần Thị T, đăng ký mang tên Trần Thị T. Trong quá trình làm thuê, do K thường xuyên uống rượu bia nên chị T cho K nghỉ việc. Khoảng hơn 23 giờ ngày 03/10/2020, do bực tức về việc chị T cho nghỉ việc không có lý do chính đáng nên sau khi sử dụng rượu, K đã đến nhà của chị T ở khu V, xã V, thị xã P để tìm gặp nói chuyện nhưng chị T không ở nhà, K đã nhặt gạch ở ven đường ném vỡ cửa kính ra vào bên phải hướng từ ngoài vào trong rồi bỏ đi. Khoảng 10 phút sau, K tiếp tục quay lại nhà chị T để nói chuyện nhưng chị T vẫn chưa về, thấy xe ô tô Biển kiểm soát 19A-318.46 đang đỗ ở sân nhà nên K nhặt gạch ở phía trước cửa nhà chị T ném vỡ kính chắn gió phía sau của xe rồi bỏ chốn.
Ngay sau khi sự việc xảy ra, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thị xã P đã tiến hành khám nghiệm hiện trường, khám phương tiện, thu giữ các vật chứng, tài liệu liên quan gồm: 01 xe ô tô Biển kiểm soát 19A-318.46; 01 đăng ký xe ô tô số 050233 do Công an tỉnh Phú Thọ cấp ngày 18/9/2020 mang tên Trần Thị T; 01 viên gạch kích thước 20 x 60cm và 05 mảnh kính vỡ. Quá trình khám nghiệm hiện trường đã phát hiện, mô tả, chụp ảnh cụ thể kính chắn gió phía sau xe ô tô bị vỡ, cửa kính bên phải bị vỡ tương ứng phía dưới trên mặt đất có nhiều mảnh kính vỡ. Khám nghiệm chiếc xe ô tô biển kiểm soát 19A-318.46 phát hiện kính chắn gió cửa lên xuống phía trước bên trái mặt ngoài có vết mài sát kích thước 14 cm x 5 cm bám dính chất màu nâu, kính chắn gió phía sau xe ô tô bị nứt vỡ toàn bộ.
Phục vụ công tác điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã P đã tiến hành mở khai thác 03 đoạn video do chị Trần Thị T cung cấp ngày 13/10/2020. Sau đó cho chị T trực tiếp xem lại nội dung 03 đoạn video đó; đoạn 1 có độ dài 15 giây từ 23 giờ 27 phút 44 giây đến 23 giờ 27 phút 59 giây ngày 03/10/2020 ; đoạn 2 có độ dài 1 phút 04 giây từ 23 giờ 29 phút 57 giây đến 23 giờ 31 phút 01 giây; đoạn 3 có độ dài 1 phút 59 giây từ 23 giờ 39 phút 17 giây đến 23 giờ 41 phút 16 giây cùng ngày 03/10/2020 đều từ đầu camera được lắp đặt phía trước cửa của gia đình chị T.
Ngày 09/10/2020, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã P có yêu cầu định giá tài sản định giá thiệt hại tài sản do K gây ra. Tại bản Kết luận định giá tài sản số 39/2020/KL-ĐGTS ngày 13 tháng 10 năm 2020 của Hội đồng định giá tài sản – Uỷ ban nhân dân thị xã P kết luận: “Giá trị thiệt hại của kính chắn gió phía sau xe ô tô nhãn hiệu Chevelet AVEO LTZ biển kiểm soát 19A-318.46 là 2.390.000 đồng (Hai triệu ba trăm chín mươi nghìn đồng chẵn) và giá trị thiệt hại của cửa kính cường lực, dạng cửa lùa đóng mở về hai bên là: 1.765.000đ (Một triệu bẩy trăm sáu mươi lăm nghìn đồng). Tổng giá trị thiệt hại hai loại tài sản trên là 4.155.000 đồng (Bốn triệu một trăm năm mươi lăm nghìn đồng)”.
Ngày 30/11/2020, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thị xã P đã khởi tố vụ án hình sự và ngày 26/01/2021 khởi tố bị can đối với Nguyễn Văn K về tội: “Cố ý làm hư hỏng tài sản”. Quá trình điều tra, xác minh bị can K bỏ trốn khỏi địa phương nên ngày 05/02/2021, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thị xã P đã ra Quyết định truy nã đối với Nguyễn Văn K. Ngày 01/3/2021, bị cáo K đã đến Công an xã H, huyện H, tỉnh Nam Định để đầu thú Công an đã thu giữ của K: 01 xe ô tô Biển kiểm soát 30E-379.19 nhãn hiệu Huyndai, màu sơn bạc số khung: 41CAHM215798, số máy: G4LAGM202908; 01 Giấy chứng nhận kiểm định số KD 4360888 do Trung tâm đăng kiểm xe cơ giới Hà Nội cấp ngày 20/10/2020; 01 Giấy bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe ô tô do Công ty bảo hiểm toàn cầu cấp ngày 13/5/2020; 01 bản sao Giấy đăng ký xe ô tô Biển kiểm soát 30E-379.19; 01 Giấy biên lai thu tiền phí sử dụng đường bộ số 0029471 cấp ngày 20/10/2020 và ngày 02/3/2021, Cơ quan điều tra Công an thị xã P đã ra Quyết định đình nã đối với Nguyễn Văn K. Tại cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã P, Nguyễn Văn K đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên.
Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn K khai nhận như sau: Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như bản cáo trạng đã truy tố. Khi biết bị truy nã, bị cáo đã ra đầu thú. Công an thu giữ 01 xe ô tô Biển kiểm soát 30E-379.19 cùng toàn bộ giấy tờ xe ô tô. Chiếc xe ô tô trên bị cáo thuê tự lái của Công ty cổ phần đầu tư và thương mại T Nhàn. Bị cáo lao động tự do, thu nhập thấp, không có tài sản gì.
Bản cáo trạng số 33/CT-VKS-TXPT ngày 26/5/2021 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã P truy tố bị can Nguyễn Văn K về tội: “Cố ý làm hư hỏng tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 178 Bộ luật hình sự.
* Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã P giữ quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố, công bố bản luận tội, đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn K phạm tội: “Cố ý làm hư hỏng tài sản”.
Áp dụng khoản 1 điều 178, điểm s khoản 1, khoản 2 điều 51, điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt Nguyễn Văn K từ 18 tháng tù đến 21 tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bắt tạm giữ bị cáo là ngày 01/3/2021.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
-Về xử lý vật chứng và đồ vật, tài liệu tạm giữ: Áp dụng điểm a khoản 1 điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 1; điểm a khoản 2; điểm a, điểm b khoản 3 điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
Tịch thu 01 viên gạch kích thước 20 x 60cm và 05 mảnh kính vỡ để tiêu hủy.
Xác nhận ngày 12/11/2020, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã P đã trả lại cho chị Trần Thị T xe ô tô Biển kiểm soát 19A-318.46, nhãn hiệu CHEVELET, số loại AVEO, màu sơn đen và 01 đăng ký xe ô tô số 050233 do Công an tỉnh Phú Thọ cấp ngày 18/9/2020 mang tên Trần Thị T là hợp pháp;
Xác nhận ngày 12/3/2021, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã P đã trả cho Công ty cổ phần đầu tư và thương mại T do anh Phạm Đức A đại diện theo ủy quyền 01 xe ô tô Biển kiểm soát 30E -379.13, nhãn hiệu Hyndai cùng các giấy tờ liên quan gồm: 01 Giấy chứng nhận kiểm định số KD 4360888 do Trung tâm đăng kiểm xe cơ giới Hà Nội cấp ngày 20/10/2020; 01 Giấy bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe ô tô do Công ty bảo hiểm toàn cầu cấp ngày 13/5/2020; 01 bản sao Giấy đăng ký xe ô tô Biển kiểm soát 30E-379.19; 01 Giấy biên lai thu tiền phí sử dụng đường bộ số 0029471 cấp ngày 20/10/2020 là hợp pháp.
Lưu hồ sơ vụ án đối với chiếc đĩa DVD do chị Trần Thị T giao nộp ngày 13/10/2020.
Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn K phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo nhận thấy hành vi của bị cáo là sai, mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
.Về hành vi, quyết định tố tụng:
Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã P, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã P, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, bị cáo, bị hại, những người tham gia tố tụng không có ý kiến gì. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
.Đánh giá các chứng cứ buộc tội đối với bị cáo:
Khoảng hơn 23 giờ ngày 03/10/2020, tại khu V, xã V, thị xã P, tỉnh Phú Thọ; Nguyễn Văn K đã sử dụng gạch ném vỡ kính chắn gió phía sau của xe ô tô biển kiểm soát 19A-318.46 và cửa kính cường lực tại nhà chị Trần Thị T, tổng giá trị thiệt hại 4.155.000đ (Bốn triệu một trăm năm mươi lăm nghìn đồng). Lời nhận tội của bị cáo hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị hại, phù hợp với thời gian, địa điểm xảy ra vụ án, kết luận định giá tài sản, các tài liệu khác có trong hồ sơ và đã được thẩm tra tại phiên tòa. Như vậy, có đủ căn cứ pháp lý kết luận bị cáo Nguyễn Văn K phạm tội: “Cố ý làm hư hỏng tài sản” theo quy định tại khoản 1 điều 178 của Bộ luật hình sự. Viện kiểm sát nhân dân thị xã P truy tố bị cáo về tội danh cũng như điều khoản trên là hoàn toàn đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
Tại khoản 1 Điều 178 Bộ luật hình sự quy định:
“1. Người nào hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản của người khác giá trị từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:...”
.Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:
Hành vi mà bị cáo đã thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến khách thể là tài sản của người khác được pháp luật hình sự bảo vệ, do vậy cần phải được xử lý nghiêm bằng pháp luật hình sự. Bị cáo là T niên có sức khỏe, hiểu biết xã hội và pháp luật nhưng vì một số mâu thuẫn cá nhân, không kìm chế được bản thân dẫn đến có hành vi làm hư hỏng tài sản của người khác. Bị cáo là người có nhân thân không tốt, đã bị Tòa án xét xử 2 lần về tội Trộm cắp tài sản và đã được đưa đi giáo dục cải tạo, nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học tu dưỡng rèn luyện bản thân mà lại lao vào con đường phạm tội nên phải chịu hình phạt tương xứng với hành vi mà bị cáo gây ra. Sau khi bị cáo thực hiện hành vi phạm tội lại bỏ trốn và bị truy nã. Song khi quyết định hình phạt cũng cần xem xét giảm nhẹ hình phạt đối với bị cáo vì trong giai đoạn điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, bị cáo đã ra đầu thú. Đó là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự và bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.
Xét về tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo thì hình phạt tù cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian là cần thiết, mới đủ điều kiện để giáo dục bị cáo rèn luyện, cải tạo được tội lỗi mà bị cáo đã phạm. Với mức hình phạt như đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã P là phù hợp, mức án đó mới đủ điều kiện giáo dục bị cáo trở thành người tốt, có ích cho xã hội.
. Về hình phạt bổ sung: Tại khoản 5 điều 178 của Bộ luật hình sự quy định: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000dồng đến 100.000.000đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 1 năm đến 5 năm”. Xét thấy, bị cáo nghề nghiệp lao động tự do, thu nhập thấp, không có tài sản có giá trị nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo là phù hợp với điều kiện thực tế và quy định của pháp luật.
. Về trách nhiệm dân sự:
Quá trình điều tra xác định giá trị thiệt hại về tài sản của bị hại là 4.155.000đồng. Bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường nên Hội đồng xét xử không xem xét.
.Về vật chứng và các đồ vật, tài liệu liên quan:
Đối với chiếc đĩa DVD do chị Trần Thị T giao nộp ngày 13/10/2020 ghi lại hành vi phạm tội của K được lưu trong hồ sơ vụ án.
Đối với chiếc xe ô tô Biển kiểm soát 19A-318.46, nhãn hiệu CHEVELET, số loại AVEO, màu sơn đen; 01 đăng ký xe ô tô số 050233 do Công an tỉnh Phú Thọ cấp ngày 18/9/2020 mang tên Trần Thị T là tài sản hợp pháp của chị Trần Thị T. Ngày 02/11/2020, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã P đã trả lại cho chị T là phù hợp cần xác nhận.
Đối với 01 xe ô tô Biển kiểm soát 30E -379.13, nhãn hiệu Hyndai cùng các giấy tờ liên quan khi thu giữ của K. Đây là các tài sản của Công ty Cổ phần đầu tư và thương mại T Nhàn. Chiếc xe trên K ký hợp đồng thuê xe với công ty từ ngày 21/02/2021 để sử dụng làm taxi, không liên quan đến hành vi phạm tội của K, nên ngày 12/3/2021 Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an Thị xã P đã trả lại chiếc xe ô tô và các giấy tờ liên quan cho anh Phạm Đức A là đại diện theo uỷ quyền của công ty Cổ phần đầu tư và thương mại Thanh Nhàn là hợp pháp cần xác nhận.
Đối với 01 viên gạch kích thước 20 x 60cm và 05 mảnh kính vỡ, là vật chứng chứng liên quan đến hành vi phạm tội của K không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu để tiêu hủy.
.Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn K phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 điều 178, điểm s khoản 1, khoản 2 điều 51; khoản 1 điều 38 của Bộ luật hình sự. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn K phạm tội: “Cố ý làm hư hỏng tài sản”; phạt Nguyễn Văn K 18 (Mười tám) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bắt tạm giữ bị cáo là ngày 01/3/2021.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
-Về xử lý vật chứng và đồ vật, tài liệu tạm giữ: Áp dụng điểm a khoản 1 điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 1; điểm a khoản 2; điểm a, điểm b khoản 3 điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
Tịch thu 01 viên gạch kích thước 20 x 60cm và 05 mảnh kính vỡ để tiêu hủy. (Theo biên bản giao nhận vật chứng đến Chi cục Thi hành án dân sự thị xã P ngày 28/5/2021)
Xác nhận ngày 12/11/2020, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã P đã trả lại cho chị Trần Thị T xe ô tô Biển kiểm soát 19A-318.46, nhãn hiệu CHEVELET, số loại AVEO, màu sơn đen và 01 đăng ký xe ô tô số 050233 do Công an tỉnh Phú Thọ cấp ngày 18/9/2020 mang tên Trần Thị T là hợp pháp;
Xác nhận ngày 12/3/2021, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã P đã trả cho Công ty cổ phần đầu tư và thương mại T do anh Phạm Đức A đại diện theo ủy quyền 01 xe ô tô Biển kiểm soát 30E -379.13, nhãn hiệu Hyndai cùng các giấy tờ liên quan gồm: 01 Giấy chứng nhận kiểm định số KD 4360888 do Trung tâm đăng kiểm xe cơ giới Hà Nội cấp ngày 20/10/2020; 01 Giấy bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe ô tô do Công ty bảo hiểm toàn cầu cấp ngày 13/5/2020; 01 bản sao Giấy đăng ký xe ô tô Biển kiểm soát 30E-379.19; 01 Giấy biên lai thu tiền phí sử dụng đường bộ số 0029471 cấp ngày 20/10/2020 là hợp pháp.
Lưu hồ sơ vụ án đối với chiếc đĩa DVD do chị Trần Thị T giao nộp ngày 13/10/2020.
- Về án phí: Áp dụng khoản 2 điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Nguyễn Văn K phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo có mặt có quyền kháng cáo; bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày giao hoặc niêm yết bản án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ xét xử phúc thẩm.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
| Nơi nhận: -VKSND thị xã, tỉnh; -Công an thị xã; -Trại tạm giam; -Sở tư pháp; -Bị cáo; Bị hại; -THAHS, THADS; -Lưu hồ sơ; -Lưu văn phòng. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hà Thu Hiền |