vanban.org

Bản án 35/2021/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng Tuyên án 08/04/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Quốc H phạm tội “Cố ý gây thương tích”;

Xử phạt bị cáo Nguyễn Quốc H 02 (hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ bị cáo tự nguyện thi hành án hoặc bắt bị cáo chấp hành án. Trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Quốc H bị truy tố về tội Cố ý gây thương tích - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Quốc H phạm tội “Cố ý gây thương tích”;
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 134 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ SÓC TRĂNG
TỈNH SÓC TRĂNG
–––––––––––––––

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 35/2021/HS-ST
Ngày 08-4-2021

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÓC TRĂNG, TỈNH SÓC TRĂNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Trúc Phương

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Đỗ Ngọc Cận

Ông Trần Vĩnh Ảnh

- Thư ký phiên tòa: Ông Đặng Chí Thức là Thẩm tra viên Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Vương - Kiểm sát viên.

Trog các ngày 07, 08 tháng 4 năm 2021 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 09/2021/TLST-HS ngày 15 tháng 01 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 28/2021/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 3 năm 2021 đối với bị cáo:

Nguyễn Quốc H, sinh ngày 22 tháng 4 năm 1991 tại Sóc Trăng; Nơi cư trú: đường Q, khóm B, phường H, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng; nghề nghiệp: Không ; trình độ học vấn: 3/12; quốc tịch: Việt Nam; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Xuân H, sinh năm 1967 và bà Nguyễn Thị Hoàng O, sinh năm 1971; có vợ: chung sống như vợ chồng với Kim Thị Bích P, sinh năm 2002; con: chưa có; tiền án: Không; tiền sự: Không; về nhân thân: vào ngày 23/6/2014, bị Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng, tuyên phạt 07 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong ngày 21/12/2014 đã được xóa án tích. Bị cáo bị cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 21 tháng 9 năm 2020 cho đến nay (có mặt)

- Bị hại: Dương Minh C, sinh ngày 28/9/1997 (có mặt)

Nơi cư trú: đường Đoàn Thị Đ, khóm M, phường B, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng.

- Người làm chứng:

+ Kim Thị Bích T, sinh năm 1982 (vắng mặt)

Nơi cư trú: Ấp P, xã M, huyện T, tỉnh Sóc Trăng.

+ Mạch Thị Thu C, sinh năm 1965 (có mặt)

Nơi cư trú: đường Đoàn Thị Đ, khóm M, phường B, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng.

+ Dương Thị Bảo N, sinh năm 1992 (có mặt)

Nơi cư trú: Ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Sóc Trăng.

+ Dương Mỹ P, sinh năm 1969 (có mặt)

Nơi cư trú: đường P, khóm B, phường T, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Quốc H và Kim Thị Bích P chung sống với nhau như vợ chồng tại Nhà trọ số 152, đường Đoàn Thị Điểm, khóm 1, phường 3, thành phố Sóc Trăng. Vào khoảng hơn 08 giờ, ngày 14 tháng 02 năm 2020, H đến nhà trọ mẹ vợ của H là bà Kim Thị Bích Tuyền tại hẻm số 179, đường Đoàn Thị Điểm, khóm 1, phường 3, thành phố Sóc Trăng để tìm P nhưng không gặp. Lúc này chị Dương Bảo N là chị ruột của Dương Minh C cũng đến hẻm số 179, đường Đoàn Thị Điểm, khóm 1, phường 3, thành phố Sóc Trăng để thu tiền hụi thì gặp bà Tuyền, bà Tuyền nói với chị N là P và C là em ruột của chị N, có quan hệ bất chính với nhau và P đi cùng với C từ hôm qua tới hôm nay chưa về. Lúc này chị N dùng điện thoại gọi cho C để hỏi rõ sự việc, C kêu chị N chạy lại khu vực gần chùa Khleang, đường Tôn Đức Thắng, khóm 5, phường 6, thành phố Sóc Trăng, rướt C. Chị N nói với H là đi rướt C lại nói chuyện với H. H ngồi ở trước nhà số 179/20B, hẻm 179, đường Đoàn Thị Điểm, khóm 1, phường 3, thành phố Sóc Trăng, đợi bà N. Một lúc sau, chị N chở C lại gặp H. Khi gặp C, giữa H và C cự cải nhau một lúc thì H lấy trong túi quần ra bình xịt hơi cay xịt vào mặt của C, do bị H xịt hơi cay vào mặt nên C lấy trong túi quần ra cây dao xếp (dao bấm), có lưỡi bằng kim loại, mũi nhọn, dài khoảng 24 cm ra đâm H nhưng do H né được nên không trúng, C tiếp tục lấy cây dao cầm trên tay ném vào người của H trúng vào vùng bụng của H nhưng không gây thương tích, H khom người xuống dùng tay trái nhặt cây dao của C ném cầm trên trên tay, lúc này C lao vào dùng gối đánh H, thì H tay trái cầm dao đâm trúng vào vùng ngực bên phải của C 01 nhát gây thương tích. Sau đó được mọi người can ngăn và đưa C đến Bệnh viện cấp cứu.

Tại Bản kết luận giám định pháp y số 112, ngày 06 tháng 4 năm 2020 của Trung tâm pháp y thuộc Sở y tế tỉnh Sóc Trăng, kết luận:

- Dấu hiệu chính qua giám định:

+ Tổn thương thấu ngực phải, thủng thùy trên phổi phải đã được phẩu thuật khâu thùy trên phổi phải, dẫn lưu màng phổi, khâu vết thương thành ngực;

+ Sẹo phẩu thuật xuôi giữa xương ức, kích thướt 20 cm x 01 cm.

+ Sẹo dẫn lưu đường nách giữa khoang liên sườn 4 – 5 bên phải, kích thướt 03 cm x 01 cm.

- Tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên tính theo Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28 tháng 8 năm 2019 của Bộ Y tế hiện tại là 24%.

- Kết luận khác: Tổn thương do vật sắt – nhọn gây nên; Tổn thương nằm ở vùng gây nguy hiểm đến tính mạng.

Tại bản Cáo trạng số 14/CT-VKS ngày 13/01/2021 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Sóc Trăng đã truy tố bị cáo Nguyễn Quốc H về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại tòa, Kiểm sát viên vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Quốc H phạm tội “Cố ý gây thương tích”;

Đề nghị áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134, Điều 38 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Nguyễn Quốc H. Đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Quốc H từ 05 năm đến 06 năm tù;

Về trách nhiệm dân sự: Đề nghị ghi nhận sự thỏa thuận giữa bị cáo và bị hại: yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 15.000.000 đồng cho bị hại C, trong đó yêu cầu bồi thường về ngày công lao động 2 tháng x 4.500.000 đồng = 9.000.000 đồng; Tiền thuốc, các chi phí điều trị ở bệnh viện 6.000.000 đồng.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy các đồ vật, tài liệu tạm giữ không còn giá trị sử dụng hoặc không sử dụng được: 01 ống kim loại bằng nhôm, một đầu bị bít, đầu còn lại có lổ tròn có đường kính 2,4 cm, có hình trụ, chiều dài 28 cm; 01 chay nhựa mùa trắng, nắp chay màu xanh, trên thân chay có chữ Xi sat, bên trong có chất lỏng không kiểm tra chất lỏng là gì, đã qua sử dụng; 01 cây dao bằng kim loại, dạng xếp, dài khoảng 24 cm, trong đó lưỡi dao dài 11 cm, màu đen, trên cán dao có phần sơn màu xanh, lưỡi dao có dính chất dịch màu đỏ (dao bấm); 01 chay xịt hơi cay, hình tròn có chiều dài 15 cm, đường kính 03 cm, thân chay màu xanh, nắp chay màu đen, phía trên thân chay có chữ American style Nato, supperparalisant, bên trong không có chứa chất lỏng.

Tại tòa, bị cáo thừa nhận thương tích của bị hại C do bị cáo gây ra nhưng bị cáo chỉ là tự vệ chứ không có cố ý đâm bị hại nên cáo trạng truy tố bị cáo là không đúng nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo theo quy định pháp luật và xin giảm nhẹ hình phạt. Đồng thời bị cáo đồng ý bồi thường số tiền 15.000.000 đồng cho bị hại.

Bị hại Dương Minh C trình bày tại phiên tòa thương tích của bị hại là do bị cáo H gây ra yêu cầu xử lý H theo quy định của pháp luật. Về trách nhiệm dân sự bị hại yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 15.000.000 đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra và truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Ngoài ra, trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, không có người nào có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp, đúng pháp luật.

. Đối với việc vắng mặt những người làm chứng Kim Thị Bích Tuyền, đã có lời khai làm rõ các tình tiết vụ án, việc vắng mặt của những người này không ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 293 của Bộ luật tố tụng hình sự để xét xử vắng mặt những người vừa nêu trên.

. Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Quốc H khai nhận: Vào khoảng hơn 08 giờ ngày 14/02/2020, bị cáo đến nhà mẹ vợ của bị cáo tại hẻm 179, đường Đoàn Thị Điểm, phường 3, thành phố Sóc Trăng để nói với mẹ vợ bị cáo là vợ của bị cáo tên Kim Thị Bích P đi cả đêm không về, điện thoại liên lạc không được, bị cáo đi tìm một số nơi nhưng không gặp. Một lúc sau có người phụ nữ tên N nói là chị của C và gọi điện thoại cho C. Chị N nói sẽ kêu vợ của bị cáo về và kêu C đến gặp bị cáo nói chuyện. Bị cáo ngồi trên ghế đá ở trước nhà bà Tám (họ tên gì tôi không rõ) khoảng hơn 20 phút thì chị N chở C đến gặp bị cáo. Khi gặp C, bị cáo hỏi C “Vợ tao mày cũng lấy nữa hả”, C trả lời “ tao lấy rồi sao”, lúc này bị cáo thấy C thò tay vào trong túi quần, thấy vậy bị cáo mới lấy trong túi quần bị cáo ra chai dùng để xịt hơi cay xịt vào mặt của C. Sau đó C lấy cầm dao xông vào đâm bị cáo 02, 03 cái do bị cáo né được nên không trúng. Sau đó C lùi lại, lấy cây dao bấm đang cầm trên tay ném vào người bị cáo trúng vào vùng bụng của bị cáo nhưng không gây thương tích. Lúc này bị cáo khom người xuống nhặt con dao của C lên với ý định vứt bỏ nhưng do C dùng đá bên đường ném vào người bị cáo, C liền xông vào đánh bị cáo, bị cáo đưa dao lên đỡ nên trúng vào vùng ngực bên phải của C gây thương tích. Thương tích của bị hại C do bị cáo gây ra nhưng bị cáo chỉ là tự vệ chứ không có cố ý đâm bị hại nên cáo trạng truy tố bị cáo là không đúng nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo theo quy định pháp luật.

Hội đồng xét xử thấy rằng:

Tại biên bản ghi lời khai ngày 24/02/2020 (bút lục số 57-58) bị cáo H khai nhận:

“...Tôi bị mời đến Công an phường 3 vì có hành vi đâm người khác.....Thấy vậy tôi vứt cây nhôm bỏ rồi dùng tay lấy cây dao Trí cầm giơ lên, lúc này Trí chạy đến bị trúng vào cây dao tôi cầm, thấy vậy tôi rút dao ra...”

“...cây dao là của vợ tôi, vợ tôi đưa cho Trí khi nào tôi không biết. Khi xảy ra sự việc Trí dùng cây dao đó để đâm tôi. Tôi không cố tình đâm Trí, Trí bị trúng dao là do tôi bị chợt té tay đưa về trước đồng thời Trí chạy đến bị trúng dao tôi”

“...Đương sự H cho Cơ quan công an biết hành vi dùng dao gây thương tích cho người khác của đương sự là đúng hay sai? Đáp: Tôi H xin trả lời như sau: Tôi nhận thấy hành vi của tôi là sai....”.

Tại biên bản ghi lời khai ngày 24/02/2020 (bút lục số 59-60) bị cáo H khai nhận:

“...Do tôi nghi Trí có quan hệ nam nữ với vợ tôi tên KimThị Bích P (Hằng) nên khi gặp Trí sau khi lời qua tiếng lại tôi mới bực tức và gây thương tích cho Trí. Người tôi gây thương tích tên Trí, trước lúc gây thương tích cho Trí không sử dụng bia rượu hay chất kích thích gì...”.

“...Lúc này Trí lùi lại và ném dao này vào người tôi trúng phần cán dao ngay phần tiếp giáp giữa bụng và ngực tôi rơi xuống đất, lúc này tôi mới nhặt con dao lên và Trí ném cục đá trúngvào lưng tôi và Trí nhàu tới đánh tôi, khi tôi vào nhặt dao đưa lên thì Trí nhàu tới trúng vào ngực bên phải của Trí, tiếp tục Trí cầm đá ném liên tục vào tôi, nhưng tôi biết tôi đã đâm trúng vào ngực phải của Trí.....”

Tại biên bản ghi lời khai ngày 25/7/2020 (bút lục số 62-63) bị cáo H khai nhận:

“......Do tôi nghi C có quan hệ nam nữ với vợ tôi tên KimThị Bích P (Hằng) nên khi gặp C sau khi lời qua tiếng lại tôi mới bực tức và gây thương tích cho C..”

“.....Tôi và C cự cãi với nhau liên quan đến việc tôi nghi C có quan hệ bất chính với vợ tôi. Sao đó tôi là người dùng chai thuốc xịt viêm xoang, xịt vào mặt của C và chúng tôi xô xát qua lại với nhau, C thì cầm dao, loại dao bấm sắc nhon, còn tôi thì cầm ống nhôm rỗng. C bị thương tích ngay ngực trái của C do cây dao tôi nhặt của C, tôi cầm trên tay của tôi gây ra...”

“......Lúc này C lùi lại và ném dao này vào người tôi trúng phần cán dao ngay phần tiếp giáp giữa bụng và ngực tôi rơi xuống đất, lúc này tôi mới nhặt con dao lên và C ném cục đá trúngvào lưng tôi và C nhàu tới đánh tôi, khi tôi vào nhặt dao đưa lên thì C nhàu tới trúng vào ngực bên phải của Trí, tiếp tục C cầm đá ném liên tục vào tôi, nhưng tôi biết tôi đã đâm trúng vào ngực phải của C nên tôi bỏ đi.....”

“.....Chỉ có tôi và C đánh nhau ngoài ra không có ai tham gia...”

“.....Hung khí tôi dùng gây thương tích cho C là con dao bấm mũi nhọn có cán bằng kim màu đen, lưới bằng kim loại màu đen xanh, chiều dài khoản 25 cm. Cây dao này khi gây thương tích tôi nhặc của C ném tôi. Bây giờ tôi đã giao nộp cho Công an...”.

“...tôi nhặt dao bằng tay trái vì tôi thuận tai trái. Tôi cầm dao hướng lưỡi dao lên trên, bề sống nằm dưới. Tôi không cố tình đâm C tôi chỉ quơ tay lên đỡ và C lao vào vô tình Trúng mũi dao tôi cầm gây thương tích...”.

Tại biên bản hỏi cung bị can ngày 09/10/2020 (bút lục số 64-65), biên bản hỏi cung bị can ngày 23/11/2020 (bút lục số 66-67) bị cáo H khai nhận:

“….tôi thấy C để tay vô túi móc dao bấm màu xanh, lúc này tay trái của tôi lấy chay thuốc trị viêm xoang trong túi quần và xịt vô mặt C, lúc đó C cầm dao ra và dùng tay phải đánh tôi 2-3 cái gì đó tôi nhớ không rõ, C đâm từ trên xuống, lúc đó tôi lùi lại nên không trúng lúc đó tôi tay trái lấy ông nhôm rổng kích thước khoảng 22 cm chống đỡ không cho C đâm tôi nữa. Lúc này C lùi lại và ném dao này vào người tôi trúng phần cán dao phần tiếp giáp giữa bụng và ngực tôi rơi xuống đất, lúc này tôi mới nhặt con dao len và C nhàu tới đánh tôi, khi tôi vừa nhặt dao đưa lên thì C nhàu tới trúng vào ngực bên phải của C, sau đó C cầm đá ném liên tục vào tôi, nhưng tôi biết tôi đã đâm trúng vào ngực phải của C nên tôi bỏ đi…”

Tại biên bản hỏi cung bị can ngày 11/01/2021 (bút lục số 179-180) bị cáo H khai nhận: “ …thương tích của C là do tôi gây ra…”

Tại biên bản ghi lời khai ngày 14/02/2020 (bút lục số 92-93) Nguyễn Hồng Ch khai: “....Tôi Ch xin trả lời như sau:Vào lúc sáng ngày 14 tháng 02 năm 2020 lúc khoảng 11 giờ khi tôi đang ngồi trước nhà 179/20C thì giữa H và Trí xảy ra cự cải xong H dùng chai gì tôi không rõ xịt vào mắt của Trí rồi sau đó dùng dao đâm Trí rồi sau đó cả 2 lấy đá ném nhau....”.

Từ những lời khai của bị cáo H vừa nêu trên, cùng với lời khai của bị hại C đã chứng minh được bị cáo Nguyễn Quốc H là người gây thương tích cho bị hại C. Tại phiên tòa bị cáo cũng thừa nhận nếu không có cây dao thì bị cáo cũng tiếp tục đánh C để gây thương tích vì C có quan hệ bất chính với vợ bị cáo. Cho nên hành vi gây thương tích của bị cáo cho bị hại không thuộc trường hợp tự vệ như lời trình bày của bị cáo. Vì vậy đã đủ cơ sở để Hội đồng xét xử xác định: Vào khoảng hơn 08 giờ ngày 14 tháng 02 năm 2020, bị cáo Nguyễn Quốc H đã dùng cây dao gây thương tích làm tổn hại sức khỏe của bị hại C là 24%. Bị cáo đã dùng dao là hung khí nguy hiểm gây thương tích cho bị hại nên đã phạm tội thuộc tình tiết định khung là dùng hung khí nguy hiểm thuộc tình tiết định khung được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự. Do đó Hội đồng xét xử kết luận bị cáo Nguyễn Quốc H phạm tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Như vậy, Cáo trạng truy tố bị cáo là có cơ sở chấp nhận, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không oan cho bị cáo.

. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng. Trước khi phạm tội, bị cáo chưa có tiền án, tiền sự. Về nhân thân vào ngày 23/6/2014, bị cáo bị Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng, tuyên phạt 07 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong ngày 21/12/2014 đã được xóa án tích. Sau khi phạm tội trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thừa nhận thương tích bị hại là do bị cáo gây nên bị cáo. Trong vụ án này bị hại thừa nhận có quan hệ bất chính với vợ của bị cáo nên cũng có một phần lỗi.

Sau khi hội đồng xét xử tuyên bố nghị án thì bị cáo đã bồi thường xong cho bị hại và bị hại có đơn bãi nại xin giảm nhẹ hình phạt, không yêu cầu truy cứu trách nhiệm hình sự đối với bị cáo. Do đó bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại yêu cầu bị cáo bồi thường 15.000.000 đồng. Bị cáo đồng ý bồi thường và đã bồi thường xong.

. Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Đối với 01 ống kim loại bằng nhôm, một đầu bị bít, đầu còn lại có lổ tròn có đường kính 2,4 cm, có hình trụ, chiều dài 28 cm; 01 chay nhựa mùa trắng, nắp chay màu xanh, trên thân chay có chữ Xi sat, bên trong có chất lỏng không kiểm tra chất lỏng là gì, đã qua sử dụng; 01 cây dao bằng kim loại, dạng xếp, dài khoảng 24 cm, trong đó lưỡi dao dài 11 cm, màu đen, trên cán dao có phần sơn màu xanh, lưỡi dao có dính chất dịch màu đỏ (dao bấm); 01 chay xịt hơi cay, hình tròn có chiều dài 15 cm, đường kính 03 cm, thân chay màu xanh, nắp chay màu đen, phía trên thân chay có chữ American style Nato, supperparalisant, bên trong không có chứa chất lỏng là công cụ phạm tội và không còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.

. Xét Kiểm sát viên đề nghị về tội danh và áp dụng pháp luật là có căn cứ. Tuy nhiên về mức hình phạt: do bị cáo đã khắc phục hậu quả, bị hại có đơn xin bãi nại, giảm nhẹ, không yêu cầu truy cứu trách nhiệm hình sự nên hội đồng xét xử có xem xét xử dưới mức đề nghị của Kiểm sát viên là phù hợp, tương xứng với mức độ hành vi, hậu quả bị cáo gây ra.

. Về án phí hình sự sơ thẩm: bị cáo phải chịu 200.000 đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134, điểm b, s Khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38, Bộ luật hình sự đối với bị cáo Nguyễn Quốc H.

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Quốc H phạm tội “Cố ý gây thương tích”;

1. Xử phạt bị cáo Nguyễn Quốc H 02 (hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ bị cáo tự nguyện thi hành án hoặc bắt bị cáo chấp hành án.

2. Trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.

3. Xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy: 01 ống kim loại bằng nhôm, một đầu bị bít, đầu còn lại có lổ tròn có đường kính 2,4 cm, có hình trụ, chiều dài 28 cm; 01 chay nhựa mùa trắng, nắp chay màu xanh, trên thân chay có chữ Xi sat, bên trong có chất lỏng không kiểm tra chất lỏng là gì, đã qua sử dụng; 01 cây dao bằng kim loại, dạng xếp, dài khoảng 24 cm, trong đó lưỡi dao dài 11 cm, màu đen, trên cán dao có phần sơn màu xanh, lưỡi dao có dính chất dịch màu đỏ (dao bấm); 01 chay xịt hơi cay, hình tròn có chiều dài 15 cm, đường kính 03 cm, thân chay màu xanh, nắp chay màu đen, phía trên thân chay có chữ American style Nato, supperparalisant, bên trong không có chứa chất lỏng.

4. Án phí hình sự sơ thẩm: buộc bị cáo phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng).

Báo cho bị cáo, bị hại được kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét xử lại theo trình tự phúc thẩm.

Cỡ chữ