- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lê Thanh H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 173 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẢO LỘC TỈNH LÂM ĐỒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 35/2021/HS-ST Ngày: 30/3/2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẢO LỘC
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có :
- Thẩm Phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Qui
- Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Tống Văn Long
2. Bà Tăng Thị Nhật Minh
- Thư ký phiên tòa: Bà Đoàn Thị Thuận – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bảo Lộc.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bảo Lộc tham gia phiên tòa: ông Đặng Xuân Hùng - Kiểm sát viên.
Hôm nay, ngày 30 tháng 3 năm 2021, tại Tòa án nhân dân thành phố Bảo Lộc, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 30/2021/HSST ngày 17 tháng 02 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 36/2021/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 3 năm 2021 đối với bị cáo:
Họ và tên: Lê Thanh H; tên gọi khác: B; sinh năm: 1989; tại: Lâm Đồng; nơi ĐKNKTT: thôn A, xã Đ, thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng; nơi cư trú: số nhà 136/27 đường P, phường L, thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng; nghề nghiệp: không; trình độ văn hóa: Lớp 4/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: thiên chúa; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn H, sinh năm: 1964 và bà Trần Thị Bích T, sinh năm 1964; vợ, con: chưa có.
- Tiền sự:
+ Ngày 30/6/2014 Công an TP Bảo Lộc xử phạt hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, mức xử phạt : 1.500.000đ, hiện chưa nộp phạt
+ Ngày 10/8/2020 UBND phường L áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, thời hạn 03 thàng kể từ ngày 10/8/2020
- Tiền án:
+ Ngày 21/12/2005 Tòa án nhân dân thị xã Bảo Lộc xử phạt 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách 18 tháng về tội Trộm cắp tài sản, theo bản án số: 12/2005/HSST.
+ Ngày 26/5/2009 Tòa án nhân dân thị xã Bảo Lộc xử phạt 20 tháng tù về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo bản án số: 29/2009/HSST đã xác định tái phạm và chưa được xóa án tích (chấp hành xong hình phạt ngày 04/10/2010 và chấp hành xong hình phạt bổ sung, án phí ngày 30/9/2016).
+ Ngày 08/7/2014 Tòa án nhân dân thành phố Bảo Lộc xử phạt 24 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản, theo bản án số 62/2014/HSST đã xác định tái phạm, chấp hành xong hình phạt ngày 29/01/2016 và chưa được xóa án tích.
+ Ngày 15/8/2016 Tòa án nhân dân thành phố Bảo Lộc xử phạt 30 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản, theo bản án số 85/2016/HSST đã xác định tái phạm nguy hiểm, chấp hành xong hình phạt ngày 17/06/2018 và chưa được xóa án tích.
+ Ngày 20/6/2019 Tòa án nhân dân thành phố Bảo Lộc xử phạt 12 tháng tù về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản, theo bản án số 60/2019/HSST, chấp hành xong hình phạt ngày 31/01/2020 và chưa được xóa án tích
- Nhân Thân:
Ngày 29/8/2011 Chủ tịch UBND tỉnh Lâm Đồng đưa vào Cơ sở giáo dục A1 tại Phú Yên 24 tháng về hành vi Lừa đảo chiếm đoạt tài sản, chấp hành xong ngày 06/09/2013.
Bị cáo bị bắt tạm giam tại Nhà tạm giữ - Công an TP Bảo Lộc từ ngày 02/12/2020 cho đến nay. (có mặt).
- Bị hại:
- Anh Phạm Đặng Toàn A, sinh năm 1996; Địa chỉ: Thôn C, xã HN, huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng. (vắng mặt, có đơn yêu cầu vắng mặt)
- Anh Trần Ngọc P, sinh năm 1994; Địa chỉ: Tổ V, phường VP, thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa. (vắng mặt, có đơn yêu cầu vắng mặt)
- Chị Lê Thị Hồng X, sinh năm 1977; Địa chỉ: Đường Độ, phường L, thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng. (vắng mặt, có đơn yêu cầu vắng mặt)
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Chị Đoàn Thị Thế M (N), sinh năm 1984;
Địa chỉ: Đường N, phường B, thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng. (vắng mặt)
- Anh Nguyễn Văn C, sinh năm 1991; Địa chỉ: Đường P, phường B, thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng. (vắng mặt, có đơn yêu cầu vắng mặt)
- Anh Nguyễn Văn L, sinh năm 1976; Địa chỉ: Tổ 8, phường L, thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng. (vắng mặt, có đơn yêu cầu vắng mặt)
- Anh Võ Văn G, sinh năm 1988; Địa chỉ: Thôn 5, xã LN, huyện Bảo Lâm, tỉnh Lâm Đồng.(vắng mặt)
- Anh Trần Lê N, sinh năm 1981; Địa chỉ: Đường T, phường B, thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng. (vắng mặt, có đơn yêu cầu vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trong khoảng thời gian từ ngày 23/11/2010 và ngày 25/11/2/2020, Lê Thanh H đã thực hiện 02 vụ trộm cắp tài sản tại địa bàn Tp.Bảo Lộc. Nội dung cụ thể như sau:
Vụ thứ nhất: Vào 02 giờ 18 phút sáng ngày 23/11/2020 một mình Lê Thanh H điều khiển xe mô tô kiểu dáng Dream không biển số đi vào đường K. Khi H đi ngang qua tiệm áo cưới ART TEAM của anh Hà Huỳnh Phú Đ, tại số 01C đường K, phường B, TP Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng thì phát hiện cửa tiệm này không đóng cửa, H dừng xe để bên đường và đi bộ vào trong tiệm lén lút lấy trộm của anh Phạm Đặng Toàn A 01(một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung J7 Pro, màu xanh; 01(một) chiếc máy tính xách tay nhãn hiệu Macbook Pro 2010, màu bạc và của anh Trần Ngọc P 01 (một) chiếc va li màu đen kích thước 30 cm x 40 cm x 10 cm bằng vải, bên trong chứa các dụng cụ trang điểm. Đến khoảng 09h sáng cùng ngày để cầm được nhiều tiền hơn, H mang máy tính laptop và điện thoại di động đến cửa hàng điện thoại của anh Nguyễn Văn C, để bẻ khóa mật khẩu máy và chạy lại chương trình. Ngày 25/11/2020 anh Trần Lê N sau khi biết việc H trộm cắp tài sản đã đưa cho H 2.500.000đ để chuộc tài sản về trả cho bị hại, H đã đưa cho anh C 1.500.000đ để lấy máy tính và điện thoại, còn vali trang điểm thì H đem đến cầm cho chị Đoàn Thị Thế M (N) được số tiền là 400.000đ tiêu xài cá nhân hết. Cơ quan điều tra đã thu toàn bộ tài sản trên cùng với tiền 1.500.000đ mà H trả tiền công cho anh C.
Theo kết luận định giá số: 164/2020/BB-HĐĐGTS ngày 30/11/2020 và công văn đính chính số 04/CV-HĐĐG ngày 25/01/2021 Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự kết luận: 01(một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung J7 Pro, màu xanh; 01(một) chiếc máy tính xách tay nhãn hiệu Macbook Pro 2010, màu bạc; 01 (một) chiếc va li màu đen kích thước 30 cm x 40 cm x 10 cm bằng vải, bên trong chứa dụng cụ trang điểm của anh P và anh T có tổng trị giá: 21.246.000đ. (hai mươi mốt triệu hai trăm bốn mươi sáu nghìn đồng).
Vụ thứ hai : Vào khoảng 01 giờ sáng ngày 25/11/2020, H điều khiển xe mô tô không biển số, nhãn hiệu: Honda Dream, màu sơn: nâu đến nhà của chị Lê Thị Hồng X. H phát hiện thấy nhà chị X không khóa cửa cổng, H dựng xe mô tô ở phía trước cổng nhà rồi đi bộ vào trong nhà mở cửa chính thì cửa không khóa H đi vào trong nhà lấy được các tài sản gồm: 01 (một) ti vi nhãn hiệu Samsung màu đen, màn hình cong 49 inch, 01(một) máy tính xách tay nhãn hiệu Dell latitude e5440 màu đen, 01 (môt) cục sạc của máy tính xách tay nhãn hiệu Dell màu đen, 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone X màu trắng loại 256 GB. Sau khi lấy được tài sản trên, H đem đi bán cho Nguyễn Văn L 01 (một) máy xách tay, nhãn hiệu Dell, 01 (một) dây sạc, màu đen bán được 1.300.000đ (một triệu ba trăm nghìn đồng); Bán cho Nguyễn Văn C 01 (một) điện thoại di động Iphone X, màu trắng loại 256 GB được 1.000.000đ (một triệu đồng); Bán cho Võ Văn G 01 (một) ti vi nhãn hiệu Samsung màu đen, màn hình cong 49 inch bán được 2.000.000đ (hai triệu đồng) số tiền trên bị can H tiêu xài cá nhân hết. Cơ quan điều tra đã thu hồi tài sản trên, riêng 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone X màu trắng loại 256 GB là không thu hồi được.
Theo kết luận định giá số: 165 ngày 01/12/2020 Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự kết luận: 01 (một) ti vi nhãn hiệu Samsung màu đen, màn hình cong 49 inch, 01(một) máy tính xách tay nhãn hiệu Dell latitude e5440 màu đen, 01 (môt) cục sạc của máy tính xách tay nhãn hiệu Dell màu đen, 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone X màu trắng loại 256 GB của chị Lê Thị Hồng X có tổng trị giá là: 22.945.000đ (hai mươi hai triệu chín trăm bốn mươi nghìn đồng).
Về vật chứng:
Cơ quan điều tra đã thu hồi được các tài sản của anh Phạm Đặng Toàn A, anh Trần Ngọc P và chị Lê Thị Hồng X và đã trả lại cho chủ sở hữu. Riêng 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone X màu trắng loại 256 GB của chị Lê Thị Hồng X không thu hồi được.
Cơ quan CSĐT, Công an thành phố Bảo Lộc đang tạm giữ: 01 (một) xe mô tô biển số: 79F9-7979, nhãn hiệu: Honda Dream, màu sơn: Nâu, số khung: 201001767, số máy: 007165; 01 (một) giấy đăng ký xe mô tô BS: 51S1-1457 chưa xác định được chủ sở hữu và số tiền 2.500.000đ (hai triệu năm trăm nghìn đồng).
Về trách nhiệm dân sự: Đối với các tài sản đã thu hồi trả cho người bị hại, bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không yêu cầu bồi thường. Đối với 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone X màu trắng loại 256 GB của chị Lê Thị Hồng X, không thu hồi được, theo kết luận định giá tài sản, có trị giá là 8.500.000đ, chị X yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền trên.
Tại bản cáo trạng số 33/CT-VKS ngày 17 tháng 02 năm 2021, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bảo Lộc đã truy tố Lê Thanh H về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại điểm b, g khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự 2015 được sửa đổi bổ sung 2017.
Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Lê Thanh H thừa nhận toàn bộ nội dung bản Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố. Bị cáo thừa nhận vào ngày 23 và 25 tháng 11 năm 2020 bị cáo lợi dụng sự sơ hở mất cảnh giác trong quản lý tài sản, của chủ sở hữu, bị cáo đã chiếm đoạt 01(một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung J7 Pro, màu xanh; 01(một) chiếc máy tính xách tay nhãn hiệu Macbook Pro 2010, màu bạc; 01 (một) chiếc va li màu đen kích thước 30 cm x 40 cm x 10 cm bằng vải, bên trong chứa dụng cụ trang điểm của anh P và anh T và 01 (một) ti vi nhãn hiệu Samsung màu đen, màn hình cong 49 inch, 01(một) máy tính xách tay nhãn hiệu Dell latitude e5440 màu đen, 01 (môt) cục sạc của máy tính xách tay nhãn hiệu Dell màu đen, 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone X màu trắng loại 256 GB của chị Lê Thị Hồng X. Tổng trị giá tài sản là 44.191.000đ với hành vi cụ thể như Cáo trạng của Viện kiểm sát đã nêu là đúng, bị cáo không thắc mắc hay khiếu nại gì nội dung của bản cáo trạng.
Đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên nội dung bản Cáo trạng đã truy tố đối với bị cáo và đề nghị áp dụng điểm b, g khoản 2 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật hình sự 2015, đề nghị xử phạt bị cáo từ 48 đến 60 tháng tù.
Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo Lê Thanh H bồi thường cho chị Lê Thị Hồng X số tiền 8.500.000đ.
Về xử lý vật chứng:
01 (một) xe mô tô biển số: 79F9-7979, nhãn hiệu: Honda Dream, màu sơn: Nâu, số khung: 201001767, số máy: 007165, 01 (một) giấy đăng ký xe mô tô BS: 51S1-1457 chưa xác định được chủ sở hữu cần giao cho công an thành phố Bảo Lộc để xác minh, điều tra xử lý theo thẩm quyền và số tiền 2.500.000đ trả cho bị cáo nhưng tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có công việc, không có thu nhập nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận với viện kiểm sát.
Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo nhận thấy hành vi của mình là sai, vi phạm pháp luật, xin được giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN XÉT CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Cơ quan điều tra Công an thành phố Bảo Lộc; của Kiểm sát viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bảo Lộc trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về trình tự, thủ tục và thẩm quyền theo qui định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến thắc mắc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Hội đồng xét xử thấy rằng, các hành vi quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng qui định của pháp luật.
[2] Về nội dung vụ án: Lợi dụng sự sơ hở mất cảnh giác của chủ sở hữu trong quản lý tài sản, vào khoảng 02 giờ ngày 23/11/2020 Lê Thanh H đã lén lút trộm cắp của anh Phạm Đặng Toàn A: 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung J7 Pro, màu xanh; 01 (một) chiếc máy tính xách tay nhãn hiệu Macbook Pro 2010, màu bạc và của anh Trần Ngọc P: 01 (một) chiếc va li màu đen kích thước 30 cm x 40 cm x 10 cm bằng vải, bên trong chứa các dụng cụ trang điểm, tổng giá trị là 21.246.000đ và ngày 25/11/2020 Lê Thanh H đã lén lút trộm cắp của chị Lê Thị Hồng X: 01 (một) ti vi nhãn hiệu Samsung màu đen, màn hình cong 49 inch, 01(một) máy tính xách tay nhãn hiệu Dell latitude e5440 màu đen, 01 (môt) cục sạc của máy tính xách tay nhãn hiệu Dell màu đen, 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone X màu trắng loại 256 có tổng trị giá là 22.945.000đ. Tổng giá trị tài sản bị cáo chiếm đoạt là 44.191.000đ (bốn mươi bốn triệu một trăm chín mươi mốt nghìn đồng), để cầm cố lấy tiền tiêu xài cá nhân là hành vi vi phạm pháp luật, xâm phạm trái pháp luật đến quyền sở hữu tài sản của người khác, bị pháp luật nghiêm cấm nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện.
Bị cáo không có nghề nghiệp, lấy tiền thu được từ việc trộm cắp là nguồn sống chính, có nhân thân xấu và có 05 tiền án chưa được xóa án tích, trong đó có 03 tiền án về tội “trộm cắp tài sản”, ngoài ra bản án số 85/2016/HSST ngày 15/8/2016 bị cáo bị Tòa án nhân dân thành phố Bảo Lộc xử phạt 30 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 138 Bộ luật hình sự, đã xác định bị cáo tái phạm nguy hiểm. Đối chiếu lời khai của bị cáo H; lời khai của bị hại và chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, có đủ căn cứ khẳng định hành vi của bị cáo H đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm b, g khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung 2017. Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bảo Lộc truy tố bị cáo tội danh, điều khoản Bộ luật nêu trên là hoàn toàn có căn cứ và đúng phát luật.
[3] Xét tính chất hành vi do bị cáo H thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, thể hiện bị cáo coi thường kỷ cương pháp luật, hành vi trên không những xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân mà còn gây mất trật tự trị an tại địa phương; cần thiết phải áp dụng cho bị cáo một mức hình phạt thật nghiêm khắc, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo. Bị cáo có 05 tiền án, trong đó có 03 tiền án về tội trộm cắp tài sản, có nhân thân xấu, xét cần phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm cải tạo bị cáo và răn đe phòng ngừa chung.
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo H thực hiện hành vi trộm cắp 02 lần nên phải chịu trách nhiệm hình sự theo điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự 2015.
Về tình tiết giảm nhẹ: trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, nên áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015 để giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt.
Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo không có việc làm, Viện kiểm sát đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo là phù hợp.
[4] Về xử lý vật chứng:
Đối với 01 (một) xe mô tô biển số: 79F9-7979, nhãn hiệu: Honda Dream, màu sơn: Nâu, số khung: 201001767, số máy: 007165, 01 (một) giấy đăng ký xe mô tô BS: 51S1-1457 chưa xác định được chủ sở hữu giao cho Công an thành phố Bảo Lộc để điều tra, xử lý theo thẩm quyền. Đối với số tiền 2.500.000đ là tiền anh Trần Lê N đưa bị cáo để đi chuộc lại tài sản, nay anh N không yêu cầu bị cáo trả lại nên cần trả cho bị cáo nhưng tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
[5] Về trách nhiệm dân sự:
Chị Lê Thị Hồng X yêu cầu bị cáo Lê Thanh H bồi thường điện thoại di động nhãn hiệu Iphone X màu trắng loại 256 GB không thu hồi được, theo kết luận định giá là 8.500.000đ, cần buộc bị cáo phải bồi thường.
[6] Đối với chị Đoàn Thị Thế M, anh Nguyễn Văn L, anh Nguyễn Văn C, anh Võ Văn G là người mua tài sản và cầm cố tài sản do bị cáo H phạm tội mà có. Quá trình điều tra xác định khi mua và cầm cố tài sản của H thì chị Đoàn Thị Thế M, anh Nguyễn Văn L, anh Nguyễn Văn C, anh Võ Văn G không biết đó là tài sản do H trộm cắp mà có. Do đó, Cơ quan CSĐT, Công an TP Bảo Lộc không xem xét về trách nhiệm hình sự đối với những người trên là phù hợp.
[7] Về án phí: Buộc bị cáo H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Lê Thanh H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng điểm b, g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Lê Thanh H 05 (năm) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 02/12/2020.
2. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật hình sự và Điều 589 Bộ luật dân sự
Buộc bị cáo Lê Thanh H có trách nhiệm bồi thường cho chị Lê Thị Hồng X số tiền là 8.500.000đ (Tám triệu năm trăm nghìn đồng)
“Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, bên phải thi hành án còn phải trả số tiền lãi, tương ứng với thời gian và số tiền chậm trả, theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 357 Bộ luật dân sự”.
3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
Giao Công an thành phố Bảo Lộc: 01 (một) xe mô tô biển số: 79F9-7979, nhãn hiệu: Honda Dream, màu sơn: Nâu, số khung: 201001767, số máy: 007165, 01 (một) giấy đăng ký xe mô tô BS: 51S1-1457 chưa xác định được chủ sở hữu để điều tra xử lý theo thẩm quyền.
Trả lại cho bị cáo Lê Thanh H số tiền 2.500.000đ (hai triệu năm trăm nghìn đồng) nhưng tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
(Theo giấy nộp tiền mặt ngày 05/02/2021 và biên bản giao nhận vật chứng ngày 05/02/2021 giữa Công an thành phố Bảo Lộc với Chi cục thi hành án dân sự thành phố Bảo Lộc).
4. Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về lệ phí, án phí tòa án. Buộc bị cáo Lê Thanh H phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 425.000đ (bốn trăm hai mươi lăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo có quyền kháng cáo để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm. Đối với bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt, có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo qui định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Lâm Đồng; - VKS tỉnh Lâm Đồng; - Sở tư pháp; - VKS nhân dân thành phố Bảo Lộc; - Công an thành phố Bảo Lộc; - Nhà tạm giữ CATP Bảo Lộc; - Người tham gia tố tụng; - Chi cục T.H.A thành phố Bảo Lộc; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Trần Thị Qui. |