vanban.org

Bản án 35/2021/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị N D P.

Về quan hệ hôn nhân: Chị N D P được ly hôn với anh V T H. Về con chung: Giao con chung tên V H N, sinh ngày 11/01/2011 và V H T, sinh ngày 31/8/2012 cho anh H trực tiếp nuôi dưỡng và chị P không cấp dưỡng nuôi con. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị T ly hôn anh N"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị N D P.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 177 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ BM
TỈNH VL

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:16/2021/HNGĐ-ST
Ngày:24/3/2021
“V/v Tranh chấp Ly hôn
và nuôi con chung khi ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BM, TỈNH VL

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà N T L T.

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà N T K L;

Ông S M.

- Thư ký phiên tòa: Bà B T H T – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã BM.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã BM tham gia phiên tòa: Thuộc trường hợp không tham gia phiên tòa.

Trong ngày 24 tháng 3 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã BM xét xử sơ thẩm công khai theo thủ tục thông thường vụ án thụ lý số: 371/2020/TLST-HNGĐ về việc: “Tranh chấp ly hôn và nuôi con chung khi ly hôn”, ngày 18 tháng 12 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 13/2021/QĐXXST-HNGĐ ngày 22 tháng 02 năm 2021 và Quyết định hoãn phiên tòa số 07/2021/QĐST/HNGĐ, ngày 09 tháng 3 năm 2021 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị N D P, sinh năm 1984 – Có mặt.

Địa chỉ ĐKTT: 2522, ấp TT A, xã TA, thị xã BM, tỉnh VL.

- Bị đơn: Anh V T H, sinh năm 1982 – Vắng mặt;

Địa chỉ ĐKTT: 2522, ấp TT A, xã T A, thị xã BM, tỉnh VL.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại đơn khởi kiện ngày 26 tháng 11 năm 2020, nguyên đơn chị N D P trình bày: Vào tháng 02 năm 2010, chị P và anh V T H do quen biết và tiến tới hôn nhân, có tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán của địa phương và có đăng ký kết hôn số: 36 ngày 10 tháng 3 năm 2010 tại Ủy ban nhân dân xã TA, thị xã BM, tỉnh VL theo đúng quy định của pháp luật. Trong quá trình chung sống giữa chị P và anh H có 02 người con chung tên: V H N, sinh ngày 11/01/2011 và V H T, sinh ngày 31/8/2012. Vợ chồng không tạo lập tài sản chung và không có nợ chung.

Chị P cho rằng mâu thuẫn vợ chồng do bất đồng quan điểm dẫn đến vợ chồng thường xuyên cự cãi nhau làm cho cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc. Nay chị P nhận thấy cuộc sống hôn nhân giữa chị P và anh H không thể hàn gắn được nên yêu cầu Tòa án nhân dân thị xã BM giải quyết các vấn đề sau:

+ Về hôn nhân: Chị P yêu cầu ly hôn anh V T H, sinh năm 1982.

+ Về con chung: Chị P giao con chung tên V H N, sinh ngày 11/01/2011 và V H T, sinh ngày 31/8/2012 cho anh H trực tiếp nuôi dưỡng, chị P cấp dưỡng nuôi con 1.000.000đồng/tháng/01 người con đến khi con chung đủ 18 tuổi.

+ Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Tòa án mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải vào các ngày 26 tháng 01 năm 2021 và ngày 17 tháng 02 năm 2021 nhưng anh Đ H N vắng mặt không lý do.

* Tại phiên tòa sơ thẩm:

- Nguyên đơn trình bày:

+ Về hôn nhân: Chị P yêu cầu ly hôn anh V T H, sinh năm 1982.

+ Về con chung: Chị P giao con chung tên V H N, sinh ngày 11/01/2011 và V H T, sinh ngày 31/8/2012 cho anh H trực tiếp nuôi dưỡng, chị P không cấp dưỡng nuôi con.

+ Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Bị đơn vắng mặt không lý do.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

- Bị đơn có đăng ký thường trú tại thị xã BM ( Theo xác nhận đề ngày 20/11/2020 của Công an xã TA ), nên yêu cầu ly hôn của nguyên đơn là thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã BM theo quy định tại các Điều 35 và Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Anh V T H được Tòa án triệu tập tham dự phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải vào các ngày 26 tháng 01 năm 2021 và ngày 17 tháng 02 năm 2021 nhưng anh H vắng mặt không lý do. Anh V T H được Tòa án triệu tập tham dự phiên tòa hôn nhân sơ thẩm lần 1 vào ngày 09 tháng 3 năm 2021 nhưng anh H vắng mặt không có lý do nên Tòa án ra Quyết định hoãn phiên tòa số 07/2021/QĐST/HNGĐ, ngày 09 tháng 3 năm 2021 và ấn định ngày mở phiên tòa lần 2 vào ngày 24 tháng 3 năm 2021 nhưng anh V T H vẫn vắng mặt không có lý do. Tòa án đã tiến hành thủ tục tống đạt, niêm yết văn bản tố tụng theo đúng quy định tại Điều 177 Bộ luật tố tụng dân sự nên phiên Tòa hôn nhân sơ thẩm được tiến hành vào ngày 24 tháng 3 năm 2021 theo đúng trình tự, thủ tục quy định tại Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về quan hệ hôn nhân: Hôn nhân của chị N D P và anh V T H được xác lập trên cơ sở tự nguyện, có tổ chức lễ cưới và có đăng ký kết hôn là hôn nhân hợp pháp được pháp luật bảo vệ. Đã là vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện công việc trong gia đình được quy định tại khoản 1, Điều 19 Luật hôn nhân và gia đình. Trong cuộc sống hôn nhân của chị P và anh H đã xảy ra sự việc vợ chồng thiếu sự quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau dẫn đến thường xuyên xảy ra cự cãi làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do vậy, Hội đồng xét xử cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị N D P là phù hợp quy định tại khoản 1, Điều 9 và Điều 51, Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.

Về con chung: Chị P và anh H có 02 người con chung tên V H N, sinh ngày 11/01/2011 và V H T, sinh ngày 31/8/2012.

Xét yêu cầu của chị P giao hai người con chung cho anh H nuôi dưỡng và chị P không cấp dưỡng nuôi con.

Xét nguyện vọng của cháu V H N và V H T tại bản tự khai đề ngày 26/11/2020 nêu nguyện vọng được sống với cha và xin vắng mặt tại các phiên hòa giải và phiên tòa xét xử.

Để đảm bảo cho cháu N, cháu T phát triển toàn diện về thể chất và tinh thần Hội đồng xét xử chấp nhận giao con chung tên V H N, sinh ngày 11/01/2011 và V H T, sinh ngày 31/8/2012 cho anh H trực tiếp nuôi dưỡng và chị P không cấp dưỡng nuôi con.

Chị P được quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung mà không ai được quyền cản trở.

Về tài sản chung và nợ chung: Chị P không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Áp dụng khoản 4, Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 về mức thu, miễn, giảm, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí tòa án, chị N D P là nguyên đơn trong vụ án hôn nhân gia đình nên phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 35, 39,177 và Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ vào các Điều 19, Điều 51 và Điều 56, 81, 82 Luật hôn nhân và gia đình;

Căn cứ vào điểm a, khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 về mức thu, miễn, giảm, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị N D P.

1. Về quan hệ hôn nhân: Chị N D P được ly hôn với anh V T H.

2. Về con chung: Giao con chung tên V H N, sinh ngày 11/01/2011 và V H T, sinh ngày 31/8/2012 cho anh H trực tiếp nuôi dưỡng và chị P không cấp dưỡng nuôi con.

Chị P được quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung mà không ai được quyền cản trở.

3. Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa giải quyết.

4. Về án phí: Chị N D P phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm là 300.000 đồng ( Ba trăm nghìn đồng ). Chị P được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0010611, ngày 17/12/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã BM. Vậy chị P đã nộp xong án phí.

Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Các đương sự có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ( Mười lăm ) ngày kể từ ngày được giao bản án hoặc bản án được niêm yết.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Cỡ chữ