- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị Nguyễn Thị Thanh yêu cầu ly hôn với anh Ngô Minh T"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Bà Lâm Thị T được ly hôn với ông Ngô Minh T.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ TÚ TỈNH SÓC TRĂNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 35/2021/HNGĐ-ST Ngày: 30-9-2021 V/v ly hôn và tranh chấp về nuôi con khi ly hôn. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ TÚ, TỈNH SÓC TRĂNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thu Hồng.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Đặng Duy Tân.
Bà Phan Thị T Tâm.
- Thư ký phiên Tòa: Bà Nguyễn Thị Khánh là thư ký Tòa án nhân huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Tú tham gia phiên Tòa: Bà Triệu Thị Mộng Lý– Kiểm Sát viên.
Ngày 30 tháng 9 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mỹ Tú xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 129/2021/TLST-HNGĐ ngày 22 tháng 6 năm 2021 về ly hôn, tranh chấp nuôi con, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 58/2021/QĐXXST-HNGĐ ngày 16 tháng 8 năm 2021, giữa:
- Nguyên đơn: Bà Lâm Thị T, sinh năm 1990; Địa chỉ: Ấp P, xã P, huyện M, tỉnh Sóc Trăng (vắng mặt).
- Bị đơn: Ông Ngô Minh T, sinh năm 1986; Địa chỉ: Ấp P, xã P, huyện M, tỉnh Sóc Trăng (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện lập ngày 15 tháng 6 năm 2021 và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Lâm Thị T trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Bà Lâm Thị T và ông Ngô Minh T tổ chức lễ cưới vào năm 2009 và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường 2, thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng vào ngày 02 tháng 03 năm 2009. Hôn nhân của bà T và ông T được xây dựng trên cơ sở tự nguyện, không ai ép buộc. Thời gian đầu bà T, ông T chung sống với nhau hạnh phúc, nhưng đến cuối năm 2017 bà T, ông T phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do bà T, ông T bất đồng về quan điểm sống, trong cuộc sống vợ chồng không tìm được tiếng nói chung. Đến tháng 03 năm 2018 ông T bỏ nhà đi, bà T và những người thân của ông T đã tìm kiếm bằng nhiều cách nhưng không liên lạc được, bà T không biết ông T đi đâu, làm gì còn sống hay đã chết nên vào ngày 04 tháng 11 năm 2020, bà T làm đơn yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng tuyên bố ông Ngô Minh T, sinh năm 1986, nơi cư trú cuối cùng tại ấp Phú Tức, xã Phú Mỹ, huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng đã mất tích.
Vụ việc đã được Tòa án nhân dân huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng giải quyết tại Quyết định số 01/2021/QĐST-VDS ngày 20 tháng 5 năm 2021, chấp nhận yêu cầu của bà Lâm Thị T và tuyên bố ông Ngô Minh T, sinh năm 1986, nơi cư trú cuối cùng tại ấp Phú Tức, xã Phú Mỹ, huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng đã mất tích và quyết định này đã có hiệu lực pháp luật.
Nay bà T nhận thấy mâu thuận vợ chồng không hàn gắn được nên bà T yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Ngô Minh T.
Về con chung: Trong quá trình chung sống bà T, ông T có một (01) người con chung tên Ngô T Anh (nam, sinh ngày 11-03-2010). Hiện nay cháu Ngô T Anh đang sống với bà T. Sau khi ly hôn, bà T yêu cầu được tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục cháu Ngô T Anh (nam, sinh ngày 11-03-2010) cho đến khi cháu Ngô T Anh đủ 18 tuổi và không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi cháu Ngô T Anh.
Về tài sản chung và nợ chung: Bà Lâm Thị T trình bày không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đối với bị đơn ông Ngô Minh T: Sau khi thụ lý, Tòa án đã tóm tắt nội dung đơn khởi kiện và các yêu cầu của nguyên đơn Lâm Thị T tại Thông báo thụ lý vụ án số: 217/TB-TLVA, ngày 22 tháng 6 năm 2021 và đã tống đạt hợp lệ cho bị đơn ông Ngô Minh T, cũng như đã triệu tập hợp lệ ông T đến dự phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải hai lần nhưng ông T đều không đến dự phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải. Sau đó Tòa án đã Thông báo về kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ cho ông T nhưng ông T không gửi văn bản ghi ý kiến của ông đối với yêu cầu khởi kiện nêu trên của bà T.
Tại Biên bản ghi ý kiến của cháu Ngô T Anh, lập ngày 09 tháng 7 năm 2021 trình bày như sau: Hiện nay cháu Ngô T Anh đang sống cùng với mẹ ruột là bà Lâm Thị T tại ấp Phú Tức, xã Phú Mỹ, huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng, hằng ngày bà T chăm sóc và đưa đón cháu T Anh đi học, còn cha là ông Ngô Minh T thì đã rất lâu cháu T Anh không được gặp. Nay nếu bà T, ông T không còn chung sống với nhau thì cháu T Anh có nguyện vọng được tiếp tục sống với mẹ là bà Lâm Thị T và không yêu cầu gì đối với cha Ngô Minh T.
Tại phiên tòa Kiểm sát viên Đại diện Viện kiểm sát huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng trình bày ý kiến như sau:
Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án đã tiến hành các thủ tục tố tụng đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự như: Xác định đúng thẩm quyền thụ lý vụ án, quan hệ pháp luật tranh chấp, xác định đúng tư cách tham gia tố tụng của các đương sự, việc thu thập chứng cứ đúng theo quy định. Về thời hạn chuẩn bị xét xử được đảm bảo theo quy định. Về thời hạn gửi hồ sơ cho Viện kiểm sát nghiên cứu, việc cấp tống đạt đảm bảo đúng theo quy định. Tại phiên Tòa Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật về phiên tòa sơ thẩm.
Về nội dung vụ án: Đối với yêu cầu khởi kiện của bà Lâm Thị T, về việc yêu cầu được ly hôn với ông Ngô Minh T và yêu cầu được tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên Ngô T Anh đến tuổi trưởng thành và không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con là có căn cứ nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận. Còn về tài sản chung và nợ chung bà T tự khai tự không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên đề nghị Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, sau khi nghe ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên Tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng:
Về sự có mặt, vắng mặt của những người tham gia tố tụng:
Tại phiên tòa hôm nay nguyên đơn bà Lâm Thị T vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt. Đối với bị đơn ông Ngô Minh T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do. Do đó, căn cứ vào điểm a, b khoản 2 Điều 227, khoản 1, 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.
Về thủ tục thụ lý việc khởi kiện của nguyên đơn: Tòa án nhân dân huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng nhận được đơn yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Lâm Thị T cùng tài liệu, chứng cứ kèm theo do nguyên đơn Lâm Thị T nộp qua đường bưu điện. Ngay sau khi nhận được đơn khởi kiện và các tài liệu, chứng cứ kèm theo, Tòa án thực hiện thủ tục nhận, xử lý đơn khởi kiện của nguyên đơn Lâm Thị T và thụ lý vụ án đúng quy định tại Điều 191 và Điều 195 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Theo đơn khởi kiện lập ngày 15 tháng 6 năm 2021, nguyên đơn bà Lâm Thị T yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn giữa bà và bị đơn ông Ngô Minh T, có nơi cư trú cuối cùng tại ấp Phú Tức, xã Phú Mỹ, huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng. Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử xác định việc Tòa án nhân dân huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng thụ lý, giải quyết vụ án theo trình tự sơ thẩm là đúng quy định của pháp luật về thẩm quyền giải quyết vụ án.
Về nội dung vụ án:
Về quan hệ hôn nhân: Bà Lâm Thị T và ông Ngô Minh T xác lập quan hệ vợ chồng trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn theo đúng quy định của pháp luật nên hôn nhân của ông, bà là hợp pháp. Trong quá trình chung sống theo bà T trình bày do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, trong cuộc sống vợ chồng bà T, ông T không tìm được tiếng nói chung, từ đó dẫn đến bà và ông T thường xuyên cãi vã. Tòa án ra thông báo về phiên hòa giải cho vợ chồng trở về đoàn tụ hai lần nhưng ông T đều vắng mặt nên không tiến hành hòa giải được.
Theo lời trình bày của bà T khai ông T bỏ nhà đi từ tháng 03 năm 2018, gia đình không liên lạc được, không biết ông T làm gì, ở đâu nên bà T làm đơn yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng tuyên bố ông Ngô Minh T, sinh năm 1986, nơi cư trú cuối cùng tại ấp Phú Tức, xã Phú Mỹ, huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng đã mất tích. Vụ việc đã được Tòa án nhân dân huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng giải quyết tại Quyết định số 01/2021/QĐST-VDS ngày 20 tháng 5 năm 2021, chấp nhận yêu cầu của bà T và tuyên bố ông T mất tích, có nơi cư trú cuối cùng tại ấp Phú Tức, xã Phú Mỹ, huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng và quyết định này đã có hiệu lực pháp luật.
Tại đơn xét xử vắng mặt lập 22 tháng 9 năm 2021 bà T vẫn cương quyết xin ly hôn với ông T. Hội đồng xét xử xét thấy, thực trạng mâu thuẫn giữa bà T và ông T đã đến mức trầm trọng, ông, bà đã sống ly thân từ tháng 03 năm 2018. Hiện nay ông, bà không còn sống chung với nhau như vợ chồng, ông bà không còn thương yêu và chăm sóc lẫn nhau, đời sống hôn nhân không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên căn cứ vào khoản 1 Điều 51 và khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà Lâm Thị T cho bà được ly hôn với ông Ngô Minh T.
[2.2] Về con chung: Xét yêu cầu của bà Lâm Thị T xin được tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên Ngô T Anh (nam, sinh ngày 11-03-2010) đến tuổi trưởng thành. Hội đồng xét xử thấy, khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 có quy định: “Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con”. Nhận thấy, từ khi ông T bỏ đi cho đến nay thì cháu Ngô T Anh đều do bà T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng về tâm lý phát triển bình thường, được đi học đầy đủ. Đồng thời tại biên bản ghi nhận ý kiến của cháu Ngô T Anh thì cháu T Anh có nguyện vọng được tiếp tục sống chung với bà T. Từ những phân tích trên để nhằm đảm bảo cuộc sống ổn định cho cháu T Anh về tâm sinh lý cũng như theo nguyện vọng của cháu T Anh. Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 chấp nhận yêu cầu của bà T giao cháu Ngô T Anh cho bà T được tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi cháu Ngô T Anh đủ 18 tuổi.
Bị đơn ông Ngô Minh T được quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở ông T thực hiện quyền này, theo quy định tại Điều 82 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.
Về cấp dưỡng nuôi con: Khoản 2 Điều 82 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 quy định: “Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con”. Đáng lẽ ra, ông T là người không trực tiếp nuôi con thì phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con, nhưng theo đơn khởi kiện cũng như lời trình bày của bà T trong quá trình giải quyết vụ án, bà T trình bày hiện tại bà có việc làm ổn định, thu nhập đảm bảo đủ nuôi con, từ khi bà và ông T sống ly thân từ tháng 03 năm 2018 đến nay thì bà T luôn chăm sóc tốt về mọi mặt cho cháu Ngô T Anh và bà T không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con. Do đó, Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Về tài sản chung và nợ chung: Nguyên đơn bà Lâm Thị T tự khai không có tài sản chung và nợ chung, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Xét đề nghị của Kiểm sát viên như đã nhận định nêu trên là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về án phí: Bà Lâm Thị T phải chịu án phí ly hôn là 300.000đ theo điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án Pháp lệnh án phí, lệ phí Toà án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147; điểm a, b khoản 2 Điều 227; khoản 1,3 Điều 228; Điều 266; Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Căn cứ Điều 39 Bộ luật Dân sự.
Căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 57, Điều 58, khoản 2 Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án Pháp lệnh án phí, lệ phí Toà án.
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Lâm Thị T được ly hôn với ông Ngô Minh T.
2. Về nuôi con chung:
2.1. Giao con chung tên Ngô T Anh (nam, sinh ngày 11-03-2010) cho bà Lâm Thị T trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi cháu Ngô T Anh đủ 18 tuổi.
2.2. Về cấp dưỡng nuôi con: Bà Lâm Thị T không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
2.3. Sau khi ly hôn, ông Ngô Minh T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung tên Ngô T Anh (nam, sinh ngày 11-03-2010), bà Lâm Thị T cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở. Ông Ngô Minh T không được lạm dụng việc thăm nom con chung để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung.
3. Về tài sản chung và nợ chung: Bà Lâm Thị T tự khai, không có, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
4. Về án phí dân sự sơ thẩm: Nguyên đơn bà Lâm Thị T phải chịu 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) tạm ứng án phí sơ thẩm đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng theo biên lai thu tiền số AA/2019/0007535 ngày 21 tháng 6 năm 2021. Nguyên đơn bà Lâm Thị T đã nộp đủ án phí sơ thẩm.
5. Nguyên đơn, bị đơn có quyền làm đơn kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết công khai để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét xử theo thủ tục phúc thẩm. Viện kiểm sát có quyền kháng nghị theo quy định của pháp luật.
6. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự (đã được sửa đổi, bổ sung), thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự (đã được sửa đổi, bổ sung); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận - Các đương sự; - VKSND huyện Mỹ Tú; - Chi cục THADS huyện Mỹ Tú; - TAND tỉnh Sóc Trăng (Phòng KTNV&THA); - UBND phường 2, TP. Sóc Trăng, T. Sóc Trăng; - Lưu hồ sơ vụ án; | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thu Hồng |