vanban.org

Bản án 35/2021/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa Trương Thị Diễm L và Cao Văn M.

Về con chung và cấp dưỡng: Cao Văn M được quyền tiếp tục nuôi con chung là Cao Trí T, sinh ngày 23/5/2019. Hiện cháu T đang sống với Cao Văn M. Cao Văn M cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở Trương Thị Diễm L trong việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa Trương Thị Diễm L và Cao Văn M.
  • Căn cứ chính? Điều 55 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN LAI VUNG
TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 35/2021/HNGĐ-ST
Ngày: 17-5-2021
“V/v ly hôn và tranh chấp nuôi
con, cấp dưỡng”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LAI VUNG, TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Út.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Duy Oanh.

2. Ông Đặng Thanh Cao.

- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Thái Vân An - Thư ký Toà án nhân dân huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp.

Ngày 17 tháng 5 năm 2021, tại Hội trường xét xử Toà án nhân dân huyện Lai Vung xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 82/2021/TLST-HNGĐ, ngày 11 tháng 3 năm 2021 về việc “Ly hôn và tranh chấp nuôi con, cấp dưỡng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 35/2021/QĐXXST-HNGĐ ngày 22 tháng 4 năm 2021, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Trương Thị Diễm L, sinh năm 1995; địa chỉ: Số nhà 850/5, ấp H, xã V, huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp. Tạm trú: Số nhà 135E, đường T, phường B, quận Bình Tân, Tp Hồ Chí Minh (có mặt).

- Bị đơn: Cao Văn M, sinh năm 1992; địa chỉ : Số nhà 850/5, ấp H, xã Vĩnh T, huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp (có mặt).

NỘI `DUNG VỤ ÁN:

* Trong đơn khởi kiện ngày 02/02/2021 cũng như tại phiên tòa nguyên đơn Trương Thị Diễm L trình bày:

Trương Thị Diễm L và Cao Văn M chung sống với nhau từ năm 2018. Trương Thị Diễm L và Cao Văn M có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã V vào ngày 07/02/2020. Cuối năm 2020, trong quá trình chung sống thường xuyên mâu thuẩn do chị L và anh M không tìm được tiếng nói chung trong cuộc sống hàng ngày. Mặc dù hạn chế những bất đồng để cố gắng xây dựng gia đình nhưng mâu thuẩn vẫn diễn ra chị L và anh M không thể hóa giải những bất đồng để xây dựng một gia đình hạnh phúc, tháng 02 năm 2021 chị L bỏ nhà đi vợ chồng đã ly thân cho đến nay. Cảm thấy không thể kéo dài cuộc sống hôn nhân, chị L yêu cầu được ly hôn với anh M.

Về con chung: Trương Thị Diễm L và Cao Văn M có 01 con chung là tên Cao Trí T, sinh ngày 23/5/2019; trong tháng 02 năm 2021 vợ chồng ly thân, chị L đang nuôi con thì anh M lại ôm con đem về nuôi cho đến nay, không được sự đồng ý của chị L, nhưng nói chung hiện tại là anh M và bên nội của cháu nuôi con tốt. Trương Thị Diễm L có nghề nghiệp hiện đang làm công cho người ta, nhưng chổ ở thì chưa có ổn định, nhưng chị đảm bảo việc nuôi con tốt, chị L yêu cầu được nuôi con, không yêu cầu anh M cấp dưỡng.

Về tài sản chung và nợ chung: Trương Thị Diễm L không yêu cầu giải quyết.

* Bị đơn Cao Văn M tại phiên tòa trình bày:

Những lời trình bày của chị L về thời gian quen biết và đăng ký kết hôn là đúng. Trong quá trình sống chung thì giữa anh và chị L có lời qua tiếng lại có mâu thuẩn. Ngày 11 tháng 01âl năm 2021 thì chị L tự ý bỏ nhà đi về nhà cha ruột sinh sống cho đến nay. Nay anh M thấy không thể hàn gắn lại được, anh đồng ý ly hôn với Trương Thị Diễm L.

Về con chung: Có 01 con chung là tên Cao Trí T, sinh ngày 23/5/2019, từ khi chị L bỏ nhà đi anh M là người nuôi con, chứ không phải như chị L trình bày là tranh giành bắt con để nuôi, hiện tại chị L không có nơi ở ổn định, đang sống ở tạm nhà mẹ kế, ngày 11 tháng 01âl năm 2021 đến nay Cao Trí Trung sống với anh M. Cao Văn M yêu cầu được tiếp tục nuôi con, không yêu cầu chị L cấp dưỡng.

Về tài sản chung và nợ chung: Cao Văn M không yêu cầu giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Trương Thị Diễm L có đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết Về việc ly hôn và tranh chấp nuôi con, cấp dưỡng; bị đơn Cao Văn M có nơi cư trú tại ấp Hòa Định, xã Vĩnh Thới, huyện Lai Vung nên thuộc thẩm quyền giải quyết Tòa án nhân dân huyện Lai Vung theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

Trong quá trình giải quyết vụ án đã tiến hành thủ tục tố tụng và thu thập các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án là đúng trình tự thủ tục tố tụng của Bộ luật tố tụng dân sự quy định, những người tham gia tố tụng trong vụ án không có ý kiến, khiếu nại gì về hành vi, quyết định của các cơ quan, người tiến hành tố tụng. Do đó các chứng cứ, tài liệu đã thu thập có trong hồ sơ vụ án là hợp pháp.

Về hôn nhân: Trương Thị Diễm L và Cao Văn M chung sống với nhau từ năm 2018, có đăng ký kết hôn vào ngày 07/02/2020 tại Ủy ban nhân dân xã Vĩnh Thới, huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp, là theo quy định của pháp luật. Vì vậy, hôn nhân của chị L và anh M là hôn nhân hợp pháp được pháp luật công nhận là vợ chồng theo quy định tại Điều 8 và Điều 9 của Luật hôn nhân và gia đình, nên được pháp luật bảo vệ.

Chị L và anh M có quá nhiều mâu thuẩn không thể nào tìm được tiếng nói chung. Cuộc sống vợ chồng luôn có những bất đồng mà không thể nào hàn gắn. Anh M cũng cho rằng trong quá trình chung sống giữa anh và chị L luôn có những bất đồng mà không thể nào hòa giải, cuộc sống hôn nhân không mang lại hạnh phúc nên anh đồng ý ly hôn với chị L. Do chị L và anh M cùng thuận tình ly hôn, vì vậy Hội đồng xét xử công nhận việc thuận tình ly hôn của chị L và anh M là có căn cứ phù hợp với Điều 55 Luật hôn nhân và gia đình.

Về con chung và cấp dưỡng: Chị L yêu cầu được nuôi con chung là Cao Trí Trung, sinh ngày 23/5/2019, không yêu cầu anh M cấp dưỡng tiền nuôi con. Anh M cũng yêu cầu được nuôi con không yêu cầu cấp dưỡng. Xét thấy từ khi chị L và anh M ly thân, cháu Trung sống chung với anh M, cuộc sống đã ổn định. Từ trước đến nay, anh M cũng đã trực tiếp trông mon, chăm sóc, nuôi dưỡng chu đáo cho cháu Trung và cháu Trung cũng phát triển tốt, phù hợp với việc thừa nhận của chị L là anh M nuôi con tốt; chị L thì chưa có nơi ở ổn định, tuy rằng có việc làm nhưng không đảm bảo cho việc nuôi con. Điều này, chứng tỏ anh M đủ điều kiện để có thể trực tiếp nuôi con; thế nên giao con chung là Cao Trí T, sinh ngày 23/5/2019 cho anh M nuôi dưỡng là phù hợp quy định tại Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình.

Về cấp dưỡng: Trương Thị Diễm L không trực tiếp nuôi con, đáng lý ra thì phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con theo khoản 2 Điều 82 Luật hôn nhân và gia đình, nhưng Cao Văn M không yêu Trương Thị Diễm L cấp dưỡng nuôi con, nên Hội đồng xét xử không đặt thành vấn đề xem xét.

Về tài sản chung và nợ chung: Chị L và anh M xác định không yêu cầu giải quyết. Vì vậy, Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Căn cứ vào khoản 4, Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; thì nguyên đơn Trương Thị Diễm L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án hôn nhân và gia đình theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng Điều 55, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình; khoản 4 Điều 147 của bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa Trương Thị Diễm L và Cao Văn M.

2. Về con chung và cấp dưỡng: Cao Văn M được quyền tiếp tục nuôi con chung là Cao Trí T, sinh ngày 23/5/2019. Hiện cháu T đang sống với Cao Văn M.

Cao Văn M cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở Trương Thị Diễm L trong việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

3. Về án phí, tạm ứng án phí:

Trương Thị Diễm L phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án hôn nhân và gia đình, được khấu trừ 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0010845, ngày 04/3/2021 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Lai Vung (chị L đã nộp xong).

Các đương sự được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (17/5/2021). THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA 1/ 2/

Nguyễn Văn Út Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- TAND tỉnh Đồng Tháp;

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- VKSND huyện Lai Vung;

- Chi cục THADS huyện Lai Vung;

- Các đương sự;

- UBND xã Tân Phước, H.Lai Vung;

- Lưu: HS-VA.

Nguyễn Văn Út THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA 1/ 2/

Nguyễn Văn Út

Cỡ chữ