- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn do một bên ở nước ngoài — án hôn nhân và gia đình — "Võ Thị Kim T + Nguyễn Văn Đ"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho chị Võ Thị Kim T được ly hôn với anh Nguyễn Văn Đ (NGUYEN VAN D).
- Căn cứ chính? Điều 123 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 127 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THỪA THIÊN HUẾ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 35/2021/HNGĐ-ST Ngày 03/12/2021 “V/v xin ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trần Hưng Bính.
Các Hội thẩm nhân dân: + Bà Hồ Thị Vân Anh.
+ Bà Nguyễn Thị Bích Loan.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng Nga - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế tham gia phiên tòa: Ông Trần Viết Cảnh - Kiểm sát viên.
Ngày 03 tháng 12 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế, số 11 Tôn Đức Thắng, thành phố H, xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 13/2021/TLST-HNGĐ ngày 16 tháng 3 năm 2021; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 141/2021/QĐXXST-HNGĐ ngày 18 tháng 11 năm 2021, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Võ Thị Kim T; Địa chỉ: Thôn T, xã X, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế. Có đơn xin xét xử vắng mặt.
- Bị đơn: Anh Nguyễn Văn Đ (NGUYEN VAN D); Địa chỉ: Lầu 01, số 50, ngõ 102 đoạn 2 đường Q, khu T, thành phố Tân Bắc, Đài Loan. Có đơn xin xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và các tài liệu, chứng cứ khác thì chị Võ Thị Kim T trình bày như sau:
Chị Võ Thị Kim T và anh Nguyễn Văn Đ quen biết nhau vào năm 2013. Sau một năm tìm hiểu, chị T và anh Đ quyết định kết hôn, có tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán và đã được Ủy ban nhân dân xã V, huyện P, Thừa Thiên Huế cấp Giấy chứng nhận kết hôn ngày 10/11/2014. Sau khi kết hôn vợ chồng sống chung với nhau tại nhà của bố mẹ anh Đ ở xã V, huyện P. Tháng 4 năm 2016 anh Đ đi xuất khẩu lao động tại Đài Loan. Tháng 8 năm 2016 Chị Võ Thị Kim T cũng đi xuất khẩu lao động tại Đài Loan nhưng vợ chồng không sống chung với nhau. Năm 2019 Chị T về lại Việt Nam còn anh Đ ở lại Đài Loan tiếp tục làm việc cho đến nay. Do vợ chồng ở xa không có điều kiện quan tâm chăm sóc nên tình cảm phai nhạt, mỗi lần liên lạc đều xảy ra tranh cãi. Chị T nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, khả năng đoàn tụ là rất khó nên chị T đề nghị Tòa án cho Chị được ly hôn với anh Nguyễn Văn Đ.
Về con chung, tài sản chung và nợ chung: Không có nên không yêu cầu giải quyết.
Hiện nay, chị T đang tạm trú tại thành phố Hồ Chí Minh để làm việc. Do tình hình dịch bệnh Covid 19 diễn biến phức tạp chị không thể tham dự phiên tòa nên chị T đã có đơn xin xét xử ly hôn vắng mặt chị.
Đối với bị đơn anh Nguyễn Văn Đ: Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã gửi Thông báo thụ lý vụ án; Công văn yêu cầu anh Đ trả lời một số vấn đề cần thiết liên quan đến việc chị T xin ly hôn với anh. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhận được thư trả lời về việc đồng ý ly hôn của anh Đ, thư có có nội dung: Anh đã nhận được các tài liệu trong hồ sơ ly hôn do Tòa án gửi. Anh đồng ý ly hôn với chị T vì tình cảm vợ chồng đã hết. Về con chung, tài sản chung và nợ chung không có nên anh không yêu cầu Tòa án giải quyết, vì lý do bận công việc anh không thể về Việt Nam để tham gia tố tụng được nên anh đề nghị Tòa án xét xử ly hôn vắng mặt anh.
Chị Võ Thị Kim T đã có đơn trình bày cam đoan chữ ký và chữ viết trong thư đề ngày 23/7/2021 đúng là chữ ký và chữ viết của anh Đ.
Về kiểm sát tuân theo pháp luật về tố tụng, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế có ý kiến như sau: Từ khi thụ lý vụ án cho đến trước khi nghị án, Hội đồng xét xử, Thư ký và những người tham gia tố tụng trong vụ án đều tuân theo pháp luật tố tụng dân sự, không có vi phạm gì cần phải kiến nghị để khắc phục. Về nội dung, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của Nguyên đơn, cho chị Võ Thị Kim T được ly hôn anh Nguyễn Văn Đ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ và qua thẩm tra tại phiên tòa hôm nay, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng: Anh Nguyễn Văn Đ định cư ở Đài Loan, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ đã thể hiện được ý chí của anh Đ về việc giải quyết vụ án. Chị Võ Thị Kim T có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận và xét xử vắng mặt anh Nguyễn Văn Đ và chị Võ Thị Kim T theo khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Võ Thị Kim T và anh Nguyễn Văn Đ kết hôn hợp pháp vào năm 2014. Sau khi kết hôn vợ chồng sống chung với nhau tại nhà của bố mẹ anh Đ ở xã V, huyện P. Năm 2016 vợ chồng chị T anh Đ đi xuất khẩu lao động tại Đài Loan. Năm 2019 Chị T về lại Việt Nam còn anh Đ ở lại Đài Loan tiếp tục làm việc cho đến nay. Do vợ chồng sống xa nhau, không có điều kiện gần gũi, quan tâm, chăm sóc lẫn nhau nên tình cảm không còn. Xét thấy, hiện nay chị T và anh Đ mỗi người sống một nơi, tình cảm vợ chồng đã hết, mục đích hôn nhân không đạt được. Bị đơn anh Nguyễn Văn Đ cũng đồng ý ly hôn. Vì vậy, Hội đồng xét xử xét cần chấp nhận cho chị Võ Thị Kim T được ly hôn với anh Nguyễn Văn Đ là phù hợp với quy định của pháp luật.
Về con chung, tài sản chung và nợ chung: Anh Nguyễn Văn Đ và chị Võ Thị Kim T đều xác định không có và không yêu cầu nên Tòa án không giải quyết.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị T phải chịu 300.000 đồng theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 479 của Bộ luật Tố tụng Dân sự; Căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, khoản 2 Điều 123, Điều 127 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBNVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho chị Võ Thị Kim T được ly hôn với anh Nguyễn Văn Đ (NGUYEN VAN D).
2. Về con chung, tài sản chung và nợ chung: Anh Nguyễn Văn Đ và chị Võ Thị Kim T đều xác định không có và không yêu cầu nên Tòa án không giải quyết.
3. Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Võ Thị Kim T phải chịu 300.000 đồng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng (Biên lai số: 005696 ngày 16/3/2021 của Cục Thi hành án Dân sự tỉnh Thừa Thiên Huế).
Chị Võ Thị Kim T có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, anh Nguyễn Văn Đ (NGUYEN VAN D) có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ theo quy định của pháp luật.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh TT Huế; - Cục THADS tỉnh TT Huế; - UBND xã V, huyện P; - Các đương sự; - Lưu:HSVA, Tòa DS, HCTP. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Trần Hưng Bính |