vanban.org

Bản án 35/2021/DS-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Lương Thị H được ly hôn với anh Mai Văn H1.

Về con chung: Giao cháu Mai Lương Trung H3, sinh ngày 07/01/2011, cho chị Lương Thị H nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục đến tuổi trưởng thành (đủ 18 tuổi). Anh Mai Văn H1 không phải cấp dưỡng nuôi con chung và có quyền đi lại thăm nom con chung không ai được cản trở. Về án phí: Chị Lương Thị H phải chị… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bản án ly hôn H + H1"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Lương Thị H được ly hôn với anh Mai Văn H1.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 271 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BẮC SƠN
TỈNH LẠNG SƠN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 35/2021/DS-ST
Ngày 27-12-2021
V/v xin ly hôn, tranh chấp nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC SƠN, TỈNH LẠNG SƠN

- Thành phần Hội đồng xét sử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Vũ Mạnh Đức

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Phương Anh Tư

Bà Hoàng Thị Thiều

- Thư ký phiên tòa: Bà Dương Thị Lệ - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn tham gia phiên tòa: Bà Dương Thị Trang - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 12 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 75/2021/TLST-HNGĐ ngày 05 tháng 10 năm 2021 về vụ xin ly hôn; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 36/2021/QĐXX-ST ngày 29 tháng 11 năm 2021 và quyết định hoãn phiên tòa số 04/2021/QĐST-HNGĐ ngày 14/12/2021; giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Lương Thị H, sinh năm 1984.

Địa chỉ: Số 1, Tổ 3, khối 10, thị trấn C, huyện C, tỉnh Lạng Sơn. Có mặt.

2. Bị đơn: Anh Mai Văn H1, sinh năm 1977.

Địa chỉ: Thôn H2 (nay là thôn M), xã T, huyện B, tỉnh Lạng Sơn. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và các lời khai có trong hồ sơ vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn chị Lương Thị H trình bày:

Chị Lương Thị H và anh Mai Văn H1 được tự do tìm hiểu, và được hai bên gia đình tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán; ngày 15/9/2010, chị Lương Thị H và anh Mai Văn H1 có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện B, tỉnh Lạng Sơn; giấy chứng nhận kết hôn số 25/2010, quyển số 01/2010. Sau khi kết hôn chị Lương Thị H và anh Mai Văn H1 chung sống với nhau hạnh phúc được một thời gian; đến năm 2016 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng không có cùng quan điểm sống; vợ, chồng thường xuyên đánh cãi nhau; mặc dù đã được hai bên gia đình khuyên giải nhiều lần. Nhưng vợ, chồng chị Lương Thị H và anh Mai Văn H1 cũng không thể tiếp tục chung sống với nhau được. Nay chị Lương Thị H xác định tình cảm vợ chồng không còn, chị Lương Thị H đề nghị được ly hôn với anh Mai Văn H1.

Về con chung: Chị Lương Thị H và anh Mai Văn H1 có một người con chung là cháu Mai Lương Trung H3, sinh ngày 07/01/2011; chị Lương Thị H có yêu cầu được nuôi con chung và không yêu cầu anh Mai Văn H1 phải cấp dưỡng nuôi con sau khi ly hôn.

Về tài sản chung: Không có.

Về nợ chung: Không có.

Bị đơn anh Mai Văn H1 vắng mặt, mặc dù đã được Tòa án tống đạt giấy triệu tập theo quy định của pháp luật. Nhưng anh Mai Văn H1 không hợp tác và không đến Tòa để giải quyết vụ ly hôn. Tòa án đã thực hiện các biện pháp tống đạt theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự nhưng anh Mai Văn H1 vẫn không có mặt, không có lý do.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 28; Điều 35; Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, việc thụ lý vụ án và xác định quan hệ tranh chấp là đúng quy định của pháp luật và đúng thẩm quyền. Sau khi thụ lý vụ án Tòa án tiến hành thu thập chứng cứ, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải theo quy định của pháp luật.

Anh Mai Văn H1 vắng mặt tại phiên tòa xét xử lần hai không có lý do, mặc dù đã được tòa án tống đạt hợp lệ theo quy định của pháp luật. Căn cứ vào Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt anh Mai Văn H1 là có căn cứ và đúng quy định của pháp luật.

Về tình cảm: Quan hệ hôn nhân giữa chị Lương Thị H và anh Mai Văn H1 là hợp pháp có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Đăng ký kết hôn số 25/2010, quyển sổ 01/2010 ngày 15/9/2010, tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn. Nguyên đơn chị Lương Thị H trình bày vợ, chồng đã mâu thuẫn thường xuyên đánh, cãi nhau, không còn quan tâm đến nhau. Anh Mai Văn H1 mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng không có mặt tại Tòa án để trình bày ý kiến của mình về việc chị Lương Thị H xin ly hôn với anh Mai Văn H1. Như vậy anh Mai Văn H1 đã tự từ bỏ quyền tham gia tố tụng của mình khi giải quyết vụ án. Tòa án đã lấy lời khai người làm chứng và xác minh với Ban công an xã T, huyện B về quá trình chung sống của anh Mai Văn H1 tại địa phương. Qua xác minh được bà Đồng Thị Xuân là Phó thôn H2 (nay là thôn M), xã T cho biết anh Mai Văn H1 vẫn có hộ khẩu thường trú tại địa phương, về tình cảm vợ chồng thì bà không biết vợ, chồng mâu thuẫn ở mức độ nào, nhưng bà Xuân thấy vợ, chồng chị Lương Thị H và anh Mai Văn H1 đã sống ly thân, chị Lương Thị H đã bỏ nhà chồng đi khỏi địa phương. Về quan điểm ly hôn giữa chị Lương Thị H và anh Mai Văn H1 bà Xuân không có ý kiến gì.

Xác định tình trạng hôn nhân giữa chị Lương Thị H và anh Mai Văn H1: Thấy rằng anh Mai Văn H1 không đến Tòa án trong quá trình giải quyết ly hôn và cũng không có ý kiến về việc chị Lương Thị H có đơn xin ly hôn với anh Mai Văn H1. Như vậy tình trạng hôn nhân giữa chị Lương Thị H và anh Mai Văn H1 đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Chị Lương Thị H yêu cầu ly hôn với anh Mai Văn H1 là phù hợp với quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình. Hội đồng xét xử xét thấy yêu cầu ly hôn của chị Lương Thị H là có căn cứ, cần chấp nhận.

Về con chung: Chị Lương Thị H có nguyện vọng được nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cháu Mai Lương Trung H3, sinh ngày 07/01/2011, hiện tại cháu Mai Lương Trung H3 đang ở với mẹ là chị Lương Thị H. Chị Lương Thị H không yêu cầu anh Mai Văn H1 phải cấp dưỡng nuôi con chung. Anh Mai Văn H1 là bố của cháu Mai Lương Trung H3 không có mặt tại tòa và không có ý kiến gì về quyền nuôi con. Để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp về mọi mặt cho trẻ em, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu được nuôi con chung của chị Lương Thị H.

Về tài sản chung, nợ chung của vợ chồng: Chị Lương Thị H trình bày là không có. Anh Mai Văn H1 vắng mặt. Vì vậy Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Phát biểu của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn về quan điểm giải quyết vụ án như sau: Về tố tụng Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự; nguyên đơn chấp hành đúng quy định khi được Tòa án triệu tập; bị đơn không chấp hành quy định khi được tòa án triệu tập đến Tòa án để giải quyết vụ án. Về nội dung vụ án đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Lương Thị H với anh Mai Văn H1; giao con chung cho chị Lương Thị H nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục đến tuổi trưởng thành (đủ 18 tuổi) . Nguyên đơn chị Lương Thị H phải chịu án phí ly hôn theo quy định.

Nguyên đơn; bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn luật định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng khoản 1 Điều 28; Điều 35; Điều 39; khoản 4 Điều 147; Điều 271; khoản 1 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình. Điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Lương Thị H được ly hôn với anh Mai Văn H1.

2. Về con chung: Giao cháu Mai Lương Trung H3, sinh ngày 07/01/2011, cho chị Lương Thị H nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục đến tuổi trưởng thành (đủ 18 tuổi). Anh Mai Văn H1 không phải cấp dưỡng nuôi con chung và có quyền đi lại thăm nom con chung không ai được cản trở.

3. Về án phí: Chị Lương Thị H phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm để sung vào công quỹ Nhà nước; được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn theo biên lai thu số AA/2021/0002605 ngày 05/10/2021. Chị Lương Thị H đã nộp đủ.

Án xử công khai sơ thẩm có mặt nguyên đơn. Tòa báo cho biết có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Báo cho bị đơn vắng mặt biết có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ