vanban.org

Bản án 35/2021/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị D về việc “Tranh chấp hợp đồng dân sự vay tài sản” đối với bị đơn ông Phùng A S.

Buộc ông Phùng A S và bà Trần Thị Kim T có trách nhiệm phải trả cho bà Nguyễn Thị D số tiền vay là 118.000.000 đồng và số tiền lãi phát sinh 48.970.000 đồng, tổng cộng gốc và lãi với số tiền 166.970.000 đồng (Một trăm sáu mươi sáu triệu chín trăm bảy mươi ngàn đồng chẵn). Kể từ ngày người được thi h… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Tranh chấp hợp đồng vay tài sản"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị D về việc “Tranh chấp hợp đồng dân sự vay tài sản” đối với bị đơn ông Phùng A S.
  • Căn cứ chính? Điều 357 Bộ luật dân sự và Nghị; Điều 463 Bộ luật dân sự và Nghị; Điều 465 Bộ luật dân sự và Nghị
TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
HUYỆN B

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH LÂM ĐỒNG
Bản án số: 35/2021/DS-ST
Ngày 18-8-2021
V/v:“Tranh chấp hợp đồng
dân sự vay tài sản”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN B

TỈNH LÂM ĐỒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Biên

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Lê Thị Sáu

Bà Phan Thị Hà

- Thư ký phiên Tòa: Bà Lê Thị Hòa - Thư ký Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh Lâm Đồng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện B tham gia phiên toà: Không tham gia.

Ngày 18 tháng 8 năm 2021, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện B, tỉnh Lâm Đồng xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 17/2021/TLST-DS ngày 19 tháng 02 năm 2021 về việc “Tranh chấp hợp đồng dân sự vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 56/2021/QĐXXST-DS ngày 30 tháng 7 năm 2021, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị D, sinh năm 1959

Địa chỉ: Thôn 3, xã L, huyện B, tỉnh Lâm Đồng.

Người đại diện theo ủy quyền của bà D: Ông Lê Thanh D, sinh năm 1967

Địa chỉ: 11A, Lam S, Lộc S, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng. Có đơn đề nghị xét xử mặt.

- Bị đơn: Ông Phùng A S, sinh năm 1970

Địa chỉ: Thôn 7, xã L, huyện B, tỉnh Lâm Đồng.

Người đại diện theo ủy quyền của ông S: Bà Trần Thị Kim T, sinh năm 1978

Địa chỉ: Thôn 7, xã L, huyện B, tỉnh Lâm Đồng. Có mặt.

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Bà Trần Thị Kim T, sinh năm 1978

Địa chỉ: Thôn 7, xã L, huyện B, tỉnh Lâm Đồng. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 04/02/2021 và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn và người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn trình bày: Vào ngày 25/01/2020 bà Nguyễn Thị D cho ông Phùng A S vay số tiền 118.000.000 đồng, có lập giấy viết tay do bà D trực tiếp viết nội dung, thời hạn vay đến ngày 25/02/2020, mục đích để ông S mua xe. Sau khi thống nhất nội dung vay tiền thì ông S ký, ghi rõ họ tên phía bên vay. Do đã quá thời hạn thanh toán nợ, mặc dù bà D đã nhiều lần đòi nhưng ông S không thực hiện đúng cam kết, tính đến nay ông S chưa trả tiền lãi cho bà D.

Nay bà Nguyễn Thị D khởi kiện yêu cầu ông Phùng A S có trách nhiệm trả cho bà D số tiền nợ gốc là 118.000.000 đồng và yêu cầu tính lãi trong hạn là 1,66%/tháng từ ngày 25/01/2020 đến ngày 25/02/2020 với số tiền là 1.958.800 đồng và lãi quá hạn là 118.000.000 đồng x 2,5% x 14 tháng (từ ngày 26/02/2020 đến ngày 26/4/2021) thành tiền là 41.300.000 đồng. Tổng cộng cả tiền gốc và tiền lãi là 161.258.800 đồng.

Bị đơn Phùng A S trình bày: Bị đơn thừa nhận năm 2019 có vay số tiền 50.000.000 đồng của bà Nguyễn Thị D, khi vay hai bên không viết giấy tờ, sau đó đến ngày 25/01/2020 tiếp tục vay số tiền 40.000.000 đồng, lúc đó bà D cộng dồn cả hai lần vay thành số tiền gốc là 90.000.000 đồng và tính lãi của số nợ trên là 28.000.000 đồng, sau đó ghi thành giấy vay tiền ngày 25/01/2020 với số tiền vay là 118.000.000 đồng, thời hạn vay đến ngày 25/02/2020, mục đích vay để mua xe nhưng thực tế số tiền này ông S vay hộ em rể chứ không phải để mua xe. Trong thời gian vay ông S đã 03 lần trả lãi cho bà D với tổng số tiền 10.800.000 đồng, việc trả lãi không lập giấy tờ, không có ai làm chứng.

Nay bị đơn thống nhất có trách nhiệm trả cho nguyên đơn số tiền nợ là 118.000.000 đồng, không đồng ý trả tiền lãi theo yêu cầu của nguyên đơn vì trong số tiền trên đã tính tiền lãi.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: bà Trần Thị Kim T thống nhất như lời trình bày của bị đơn nêu trên.

Tòa án đã tiến hành phiên họp về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ ngày 07/5/2021 nhưng không thành. Sau đó người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn có đơn đề nghị không tiến hành hòa giải.

Tại phiên toà ngày 05/7/2021, nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu nêu trên và yêu cầu tính lãi quá hạn từ ngày 26/02/2020 đến ngày 26/6/2021 với mức lãi suất 2,49%/tháng và đề nghị đưa bà Trần Thị Kim T là vợ ông Phùng A S vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự tiếp tục giải quyết vụ án theo thủ tục chung.

Về quan hệ tranh chấp, thẩm quyền: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị D khởi kiện yêu cầu ông Phùng A S phải trả số tiền vay nợ gốc là 118.000.000 đồng và yêu cầu tính lãi phát sinh nên xác định quan hệ “Tranh chấp hợp đồng dân sự vay tài sản” và thuộc thẩm quyền của Tòa án giải quyết theo quy định khoản 3 Điều 26 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị D, đối chiếu tài liệu chứng cứ do nguyên đơn xuất trình, lời trình bày của các đương sự thấy rằng:

3.1 Theo giấy vay tiền ngày 25/01/2020 thì bà Nguyễn Thị D cho ông Phùng A S vay số tiền 118.000.000 đồng, lãi suất 02%/tháng, thời hạn trả nợ là ngày 25/02/2020, có chữ ký của ông Phùng A S. Bị đơn cũng thừa nhận nội dung nêu trên. Tuy nhiên, ông S cho rằng trong số tiền 118.000.000 đồng thì chỉ có 90.000.000 đồng là tiền gốc, còn 28.000.000 đồng là lãi được tính từ số tiền gốc. Ngoài ra, còn cho rằng trong thời gian vay ông S đã 03 lần trả lãi cho bà D với tổng số tiền 10.800.000 đồng mà không có chứng cứ chứng minh nên xác định số tiền ông S vay của bà D là 118.000.000 đồng.

Do vậy, nay bà Nguyễn Thị D yêu cầu ông Phùng A S có trách nhiệm trả cho bà D số tiền nợ gốc là 118.000.000 đồng và yêu cầu tính lãi là có cơ sở chấp nhận.

3.2 Xét giấy vay tiền ngày 25/01/2020 thì thì hai bên có thoả thuận lãi suất 02%/tháng, thời hạn trả nợ là ngày 25/02/2020 nên nay nguyên đơn yêu cầu tính lãi trong hạn từ ngày 25/01/2020 đến ngày 25/02/2020 với mức là 1,66%/tháng với số tiền là 1.958.800 đồng và lãi quá hạn với mức 2,49%/tháng tính từ ngày 26/02/2020 đến 26/6/2021 là phù hợp với quy định của pháp luật nên chấp nhận. Cụ thể là: Lãi trong hạn: 118.000.000 đồng x 1.66% x 01 tháng = 1.958.800 đồng; Lãi quá hạn: 118.000.000 đồng x 2,49% x 16 tháng = 47.011.200 đồng, cộng lãi 48.970.000 đồng.

Từ những cơ sở phân tích nhận định nêu trên, có đủ cơ sở khẳng định ngày 25/01/2020 ông Phùng A S vay số tiền 118.000.000 đồng của bà Nguyễn Thị D đến nay chưa trả gốc và lãi nên buộc ông Phùng A S có trách nhiệm phải trả cho bà Nguyễn Thị D số tiền vay là 118.000.000 đồng và lãi phát sinh 48.970.000 đồng, tổng cộng gốc và lãi với số tiền 166.970.000 đồng. Nay bà Nguyễn Thị D yêu cầu buộc ông S và bà T có trách nhiệm phải trả số tiền trên. Bà Trần Thị Kim T đồng ý có trách nhiệm cùng ông Phùng A S trả nợ cho bà D nên buộc ông S và bà T phải trả nợ số tiền trên cho bà D là đúng quy định của pháp luật.

Về án phí: Do yêu cầu khởi kiện của bà D được chấp nhận nên buộc ông Phùng A S và bà Trần Thị Kim T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 166.970.000 đồng * 5% = 8.348.500 đồng theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 144, Điều 147, Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự;

Áp dụng Điều 357, Điều 463, Điều 465, Điều 466, 468, 469, 470 Bộ luật dân sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí, lệ phí Toà án.

Xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị D về việc “Tranh chấp hợp đồng dân sự vay tài sản” đối với bị đơn ông Phùng A S.

Buộc ông Phùng A S và bà Trần Thị Kim T có trách nhiệm phải trả cho bà Nguyễn Thị D số tiền vay là 118.000.000 đồng và số tiền lãi phát sinh 48.970.000 đồng, tổng cộng gốc và lãi với số tiền 166.970.000 đồng (Một trăm sáu mươi sáu triệu chín trăm bảy mươi ngàn đồng chẵn).

Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, bên phải thi hành án còn phải trả số tiền lãi, tương ứng với thời gian và số tiền chậm trả theo mức lãi suất quy định khoản 2 Điều 357 Bộ luật dân sự.

2. Về án phí: Buộc ông Phùng A S và bà Trần Thị Kim T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 8.348.500 đồng.

Bà Nguyễn Thị D được nhận lại số tiền 4.068.000 đồng tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp theo biên lai thu số AA/2017/0004806 ngày 19/02/2021 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện B.

3. Về quyền kháng cáo: Án xử công khai, đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự đã được sửa đổi, bổ sung năm 2015 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6; Điều 7, Điều 7a, Điều 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2015.

Cỡ chữ