vanban.org

Bản án 35/2020/HSST — Hình sự

TAND TP. Đông Hà, tỉnh Quảng Trị Tuyên án 27/05/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Vũ Ngọc D, tên gọi khác: Cu Bé phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Về trách nhiệm hình sự: Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự, xử phạt: Vũ Ngọc D: 18 (Mười tám) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án. Về án phí: Áp dụng khoản 2, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Đi…

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "vũ ngọc dương - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Vũ Ngọc D, tên gọi khác: Cu Bé phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ ĐÔNG HÀ
TỈNH QUẢNG TRỊ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 35/2020/HSST
Ngày: 27-5-2020

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ Đ, TỈNH T

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Nguyễn Thị Vũ Xuân.

- Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Hoàng Ngọc Thoan;

2. Bà Võ Thị Trúc Mai.

- Thư ký phiên toà: Ông Trần Việt Tuấn - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Đông Hà;

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đông Hà tham gia phiên toà: Ông Lê Duy Dũng - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 5 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Đ, tỉnh T xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sơ thẩm thụ lý số 29/2020/TLST-HS ngày 17/4/2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 36/2020/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 5 năm 2020 đối với bị cáo:

Vũ Ngọc D, tên gọi khác: Cu Bé, sinh ngày 26 tháng 02 năm 1993 tại Quảng Trị; nơi cư trú: Khu phố 6, Phường 1, Thành phố Đ, tỉnh T; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: Không biết chữ; nghề nghiệp: Không; con ông Vũ Ngọc H, sinh năm 1965 và bà Hoàng Thị N, sinh năm 1965; cả hai hiện trú tại: Khu phố 6, phường 1, Thành phố Đ, tỉnh T; tiền án: Có 01 tiền án:

Bản án số 86/2018/HS-ST ngày 29/11/2018, Tòa án nhân dân Thành phố Đ, tỉnh T xử phạt 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, ngày 02/10/2019 thi hành xong bản án. Tiền sự: Không.

Nhân thân:

Ngày 18/5/2018, Công an Phường 3, Thành phố Đ, tỉnh T xử phạt hành chính 1.500.000 đồng về hành vi “Trộm cắp tài sản”.

Bản án số 86/2015/HS-ST ngày 12/11/2015, Tòa án nhân dân Thành phố Đ, tỉnh T xử phạt 03 tháng 14 ngày tù về tội “Trộm cắp tài sản”.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”, có mặt tại phiên tòa.

Bị hại:

- Anh Đoàn Văn Đ; địa chỉ: Khu phố 6, Phường 1, Thành phố Đ, tỉnh T, vắng mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- Anh Lê P; địa chỉ: Khu phố 3, Phường 1, Thành phố Đ, tỉnh T, vắng mặt.

- Anh Nguyễn Hữu H, sinh năm: 1972; trú tại: Kiệt 21 đường Hàm Nghi, Khu phố 1, Phường 1, Thành phố Đ, tỉnh T, vắng mặt.

- Anh Lê Mậu T; địa chỉ: Khu phố 7, Phường 1, Thành phố Đ, tỉnh T, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 23 giờ 30 phút ngày 14/12/2019, Vũ Ngọc D nảy sinh ý định tìm nhà dân để trộm cắp tài sản. D đi bộ dọc đường Nguyễn Huệ, khi đến nhà anh Đoàn Văn Đ (Khu phố 6, Phường 1, thành phố Đông Hà) D trèo lên tầng hai, thấy cửa khóa không thể mở được nên xuống tầng một thì phát hiện phía sau nhà có ô lưới thép B40 đã cũ nên dùng tay bẻ sợi thép tạo khoảng trống rồi đột nhập vào nhà. D đi theo lối cầu thang lên tầng hai, đến phòng ngủ sát bên cạnh cầu thang lấy 01 điện thoại di động hiệu Sam Sung Galay A10 đang sạc và một máy tính xách tay liệu Lenovo rồi ra ngoài bằng lối đã vào. Sau đó, D mang chiếc máy tính xách tay đến nhà anh Lê P, trú tại Khu phố 3, Phường 1, thành phố Đ bán với giá 300.000 đồng. Ngày 15/12/2019, D nhờ anh Nguyễn Hữu H, trú tại Khu phố 7, Phường 1, thành phố Đ bán cho anh Lê Mậu T, trú tại Khu phố 7, Phường 1, thành phố Đ chiếc điện thoại di động với giá 1.100.000 đồng. Sau khi bán được điện thoại, D cho Nguyễn Hữu H 250.000 đồng.

Tại Bản kết luận số 02/KLĐGTS ngày 25/12/2019 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Đông Hà kết luận: Trị giá còn lại của chiếc điện thoại Sam Sung Galay A10 tại thời điểm bị chiếm đoạt 2.781.000 đồng, chiếc máy tính xách tay liệu Lenovo 5.850.000 đồng.

Cáo trạng số 34/CT-VKSĐH ngày 16/4/2020 của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Đ, tỉnh T truy tố Vũ Ngọc D về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đông Hà giữ nguyên quyết định đã truy tố và đề nghị: Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự, xử phạt Vũ Ngọc D từ 12 đến 15 tháng tù.

Về dân sự: Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bị cáo bồi thường thêm về phần dân sự nên không xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên Công an thành phố Đông Hà, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đông Hà đã thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo không có khiếu nại gì. Do vậy, các hành vi, quyết định tố tụng của những người tiến hành tố tụng trên đều hợp pháp.

Về nội dung: Tại phiên tòa, bị cáo Vũ Ngọc D đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình, phù hợp với lời khai có trong hồ sơ vụ án, bản cáo trạng, do đó đủ cơ sở khẳng định: Khoảng 23 giờ 30 phút ngày 14/12/2019, Vũ Ngọc D đã có hành vi lén lút đột nhập vào nhà anh Đoàn Văn Đ, trú tại Khu phố 6, Phường 1, thành phố Đ chiếm đoạt 01 chiếc điện thoại di động hiệu Sam Sung Galay A10 và một máy tính xách tay liệu Lenovo. Tổng giá trị tài sản bị cáo chiếm đoạt là 8.631.000 đồng. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” được quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Xét về tính chất, hành vi phạm tội: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự, trị an trên địa bàn. Bị cáo có 01 tiền án về tội “Trộm cắp tài sản” chưa được xóa án tích mà lại tiếp tục phạm tội nên phải chịu tình tiết tăng nặng “Tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự. Vì vậy, cần áp dụng hình phạt nghiêm đối với bị cáo mới có tác dụng giáo dục, răn đe, phòng ngừa và đẩy lùi tội phạm.

Về tình tiết giảm nhẹ: Khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử xem xét: Trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử, bị cáo thành khẩn khai báo, bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Về dân sự: Tài sản đã trả lại cho bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, không ai yêu cầu bị cáo bồi thường thêm về phần dân sự nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Vũ Ngọc D, tên gọi khác: Cu Bé phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

1. Về trách nhiệm hình sự: Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự, xử phạt: Vũ Ngọc D: 18 (Mười tám) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.

2. Về án phí: Áp dụng khoản 2, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí tòa án: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

3. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ