vanban.org

Bản án 35/2020/HSST — Hình sự

TAND huyện Cư Jút, tỉnh Đắk Nông Tuyên án 25/09/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn H 12 (mười hai) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 10/6/2020). Về vật chứng của vụ án: Áp dụng Điều 46, Điều 47 của BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 106 của BLTTHS năm 2015: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn Hậu - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CƯ JÚT
TỈNH ĐẮK NÔNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 35/2020/HSST.
Ngày 25/9/2020.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CƯ JÚT, TỈNH ĐẮK NÔNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nông Văn Bào.

- Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Thuận và ông Bùi Văn Bửu.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Trung - Là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cư Jút.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cư Jút tham gia phiên tòa: Ông Lục Văn Đông - Kiểm sát viên

Ngày 25/9/2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cư Jút, tỉnh Đắk Nông, Tòa án nhân dân huyện Cư Jút xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 32/2020/TLST-HS ngày 27/8/2020 và theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 32/2020/QĐXXST-HS ngày 11/9/2020 đối với bị cáo:

Nguyễn Văn H; tên gọi khác: Không; sinh năm 1971 tại Thái Bình; nơi cư trú: Thôn 6, xã C, huyện C, tỉnh Đắk N; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ học vấn lớp: 4/12; nghề nghiệp: Làm nông; con ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1933 và bà Lương Thị Đ (đã chết); vợ: Trần Thị H, sinh năm 1977 và 03 con (con lớn nhất sinh năm 1996, con nhỏ nhất sinh năm 2009); tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 10/6/2020 đến nay, bị cáo hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Cư Jút, tỉnh Đắk Nông có mặt tại phiên tòa.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1959.

Địa chỉ: Thôn 6, xã C, huyện C, tỉnh Đắk N (có mặt).

- Những người chứng kiến:

1/ Anh Hoàng Xuân B, sinh năm 1991.

Địa chỉ: Thôn 6, xã C, huyện C, tỉnh Đắk N(Có mặt).

2/ Ông Phạm Văn H, sinh năm 1963.

Địa chỉ: Thôn 6, xã C, huyện C, tỉnh Đắk N (Có mặt).

3/ Bà Trần Thị H, sinh năm 1977.

Địa chỉ: Thôn 6, xã C, huyện C, tỉnh Đắk N (Có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 19 giờ 30 phút ngày 09/6/2020, Nguyễn Văn H điều khiển xe mô tô nhãn hiệu HONDA, biển kiểm soát 48D1 - 191.74 đi từ nhà tại xã Cư K’nia, huyện Cư Jút, tỉnh Đắk Nông đến khu vực cầu 14 thuộc xã Hòa Phú, thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk tìm mua ma túy, loại Heroine để sử dụng. Khi đến nơi thì H gặp 01 người đàn ông (không rõ tên tuổi, địa chỉ), H biết là người này bán ma túy nên đã đưa cho người đàn ông này số tiền là 2.000.000 đồng, sau đó người này đưa cho H 03 (ba) túi ni lông, H mở ra bên trong thấy giấy bạc màu trắng sáng và tin đó Heroine rồi mang số ma túy trên về nhà tại thôn 6, xã C, huyện C, tỉnh Đắk N.

Khi về nhà, H lấy một ít ma túy trong 01 túi ni lông ra để sử dụng, số còn lại H gói lại và cất giấu tại nhà. Đến khoảng 05 giờ 30 phút ngày 10/6/2020 và 11 giờ cùng ngày, H tiếp tục lấy số ma túy ra sử dụng, sau đó gói lại rồi cất giấu trong ví vải màu đen có quai đeo cùng số ma túy đã mua trước đó. Khoảng 14 giờ 45 phút cùng ngày, H điều khiển xe mô tô, biển kiểm soát 48D1 - 191.74 (bên trong cốp xe có áo khoác màu vàng bên trong túi áo khoác có chiếc ví vải màu đen đựng 03 túi ni lông bên trong có chứa ma túy mà Hậu mua ngày 09/6/2020) chở vợ là Trần Thị H đi làm. Đến khoảng 15 giờ ngày 10/6/2020, khi đến đường đất thuộc thôn 6, xã Cư K’nia, huyện Cư Jút, tỉnh Đắk Nông thì bị Công an huyện Cư Jút phối hợp với Công an xã Cư K’nia tiến hành dừng xe để kiểm tra. Qua kiểm tra phát hiện trong cốp xe mô tô của H có chiếc áo khoác màu vàng xám, ở trong túi áo phía trong bên trái có 01 ví vải màu đen có quai đeo cất trong túi áo khoác phía trong bên trái có 03 túi ni lông nghi là Heroine.

Tại bản kết luận giám định số: 75/KLMT-PC09 ngày 16/6/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đắk Nông, kết luận: Chất rắn màu trắng đựng trong 04 (bốn) gói giấy bạc màu trắng bọc bằng 03 (ba) gói ni lông được niêm phong trong bì thư gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng mẫu là 2,0407 gam, là Heroine. Hoàn lại đối tượng giám định là chất rắn màu trắng có khối lượng 1,4485 gam.

Tại bản Cáo trạng số: 33/CTr-VKS ngày 27/8/2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cư Jút đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự (BLHS) năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Kết quả xét hỏi tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn H đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trong cáo trạng, Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo về tội tàng trữ trái phép chất ma túy là đúng, không oan.

Kết quả tranh luận tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố hành vi của bị cáo Nguyễn Văn H như nội dung Cáo trạng số: 33/CTr-VKS ngày 27/8/2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cư Jút về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Sau khi phân tích các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX) tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H từ 12 tháng đến 15 tháng tù.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 46, Điều 47 BLHS năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017), Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự (BLTTHS) năm 2015, đề nghị:

- Tịch thu tiêu hủy các vật chứng gồm: 1,4485 gam Heroine còn lại sau giám định; 01 ví vải màu đen có quai đeo; 01 áo khoác màu vàng có mũ trên đầu mà bị cáo H sử dụng để cất giấu ma túy;

- Chấp nhận việc Cơ quan CSĐT Công an huyện Cư Jút trả lại chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA, biển kiểm soát 48D1 - 191.74 cho ông Nguyễn Văn H là chủ sở hữu hợp pháp.

Tại phiên tòa bị cáo không bào chữa, không tranh luận gì mà chỉ đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, HĐXX nhận thấy như sau:

Về hành vi của Điều tra viên, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Cư Jút, Viện kiểm sát nhân dân huyện Cư Jút, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Đối với hành vi của bị cáo HĐXX xét thấy: Vào lúc 15 giờ ngày 10/6/2020, tại đường đất thuộc thôn 6, xã Cư K’nia, huyện Cư Jút, tỉnh Đắk Nông, Nguyễn Văn H đã có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy thì bị Công an huyện Cư Jút bắt quả tang, thu giữ 03 gói ni lông có tổng trọng lượng 2,0407 gam Heroine trong ví vải màu đen đựng trong túi áo khoác màu vàng để trong cốp xe mô tô mang BKS 48D1 - 191.74 do H điều khiển, mục đích tàng trữ ma túy để sử dụng. Do đó, hành vi của bị cáo H đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Xét những chứng cứ buộc tội bị cáo và quan điểm đề nghị xử lý bị cáo của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ, đúng pháp luật nên cần chấp nhận.

Tại điểm c khoản 1 Điều 249 của BLHS quy định:

“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

c) Heroine có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam”;

Xét hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, mặc dù bị cáo biết Nhà nước nghiêm cấm các hành vi buôn bán, tàng trữ, sử dụng trái phép chất ma túy và bị cáo biết được những tác hại của ma túy dẫn đến hủy hoại sức khỏe, tinh thần, thoái hóa nhân cách, suy giảm khả năng lao động của người sử dụng, là nguyên nhân gây nên các căn bệnh xã hội. Nhưng ý thức coi thường pháp luật, do lối sống buôn thả, nghiện ma túy nên bị cáo đã thực hiện hành vi tàng trữ trái phép 2,0407 gam Heroine để sử dụng cho bản thân. Hành vi của bị cáo thể hiện ý thức coi thường pháp luật. Do đó đối với bị cáo cần phải xử phạt tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội, cách ly bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian nhất định thì mới có tác dụng giao dục, cải tạo bị cáo và răn đe phòng ngừa chung trong toàn xã hội.

Xét về nhân thân bị cáo, bị cáo là người có nhân thân tốt chưa có tiền án, tiền sự gì. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã thành khẩn khai báo, biết ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, bị cáo có bác ruột là liệt sĩ nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Đối với người đàn ông có hành vi bán ma túy trái phép cho bị cáo H tại khu vực cầu 14 thuộc xã Hòa Phú, TP Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk, hiện chưa xác định được nhân thân, lai lịch nên chưa đủ căn cứ để xử lý.

Đối với bà Trần Thị H là vợ của bị cáo H đi cùng khi H bị bắt quả tang đang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, tuy nhiên bà H không biết H cất giấu ma túy nên không có căn cứ xử lý.

Về vật chứng của vụ án: Áp dụng Điều 46, Điều 47 của BLHS năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017), Điều 106 của BLTTHS năm 2015:

- Đối với 1,4485 gam Heroine còn lại sau giám định hiện không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.

- Đối với 01 ví vải màu đen có quai đeo; 01 áo khoác màu vàng có mũ trên đầu mà bị cáo H sử dụng để cất giấu ma túy xét thấy những vật chứng này hiện không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.

- Đối với xe mô tô nhãn hiệu HONDA BKS 48D1 - 191.74 bị cáo sử dụng làm nơi cất giấu Heroine là tài sản hợp pháp của ông Nguyễn Văn H, do đó Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại cho ông H là có căn cứ nên cần chấp nhận.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn H 12 (mười hai) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 10/6/2020).

2. Về vật chứng của vụ án: Áp dụng Điều 46, Điều 47 của BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 106 của BLTTHS năm 2015:

Tịch thu tiêu hủy các vật chứng gồm: 1,4485 gam Heroin còn lại sau giám định; 01 ví vải màu đen có quai đeo; 01 áo khoác màu vàng có mũ trên đầu mà bị cáo Hậu sử dụng để cất giấu ma túy.

(Đặc điểm các vật chứng theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 27/8/2020 giữa Cơ quan CSĐT Công an huyện Cư Jút và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cư Jút).

- Chấp nhận Cơ quan CSĐT Công an huyện Cư Jút trả lại chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA FUTURE BKS 48D1 - 191.74 cho ông Nguyễn Văn H.

3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội .

Buộc bị cáo Nguyễn Văn H phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo: Bị cáo, Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn là 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ