- Tranh chấp gì? án hình sự — "Tội cướp tài sản - phạm tội cướp tài sản (điều 168 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nông Văn Th phạm tội “ Cướp tài sản”;
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 168 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒA AN TỈNH CAO BẰNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 35/2020/HS-ST Ngày: 25/12/2020 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒA AN - CAO BẰNG
- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Hoàng Kim Chi
Các hội thẩm nhân dân:
1. Ông Bế Kim Phong
2. Ông Bế Nhật Độ
- Thư ký phiên tòa: Bà Bàng Thị Minh Trang - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hòa An, Cao Bằng
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòa An, Cao Bằng tham gia phiên tòa: Ông Trịnh Nguyễn Huyên - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 12 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện An, tỉnh Cao Bằng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 35/2020/TLST-HS ngày 25 tháng 11 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 35/2020/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 12 năm 2020 đối với bị cáo:
Nông Văn Th; sinh ngày 10 tháng 9 năm 1992 tại Hòa An, Cao Bằng; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Xóm Nà Ch, xã Trương L, huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng; Nghề nghiệp: Làm Ruộng; Trình độ học vấn: 11/12; Dân tộc: Tày; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Đặng Văn H và bà Nông Thị L; Vợ: Nông Thúy Diệu, con: Nông Đức Thiên; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu, năm 2012 Nông Văn Th bị Công an huyện Phục Hòa xử phạt vi phạm hành chính về hành vi trộm cắp tài sản. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ, tạm giam từ ngày 29/9/2020 cho đến nay, có mặt tại phiên tòa.
- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị cáo: Bà Nguyễn Thị Dạ Thảo - Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Cao Bằng. Có mặt.
- Bị hại: Bà Nông Thị L; Sinh năm: 1967; Trú tại: Xóm Nà Ch, xã Trương L, huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Ông Đặng Văn H; Sinh năm: 1965; Địa chỉ: Xóm Nà Ch, xã Trương L, huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng.
- Người làm chứng: Ông Lương Văn Th; sinh năm: 1961;
Địa chỉ: Xóm Nà Ch, xã Trương L, huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng.
Có mặt bị hại, người làm chứng, vắng mặt người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 14 giờ 30 phút ngày 24/8/2020, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Hòa An tiếp nhận hồ sơ với Công an xã Trương Lương, Hòa An có dấu hiệu của tội cướp tài sản xảy ra tại Xóm Nà Ch, xã Trương L, huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng. Tiến hành điều tra, xác minh, thu thập tài liệu chứng cứ cùng lời khai của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng. Ngày 14/9/2020, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Hòa An đã ra Quyết định khởi tố vụ án Hình sự số 33 ngày 24/8/2020 tội “Cướp tài sản” và ra Quyết định khởi tố bị can đối với Nông Văn Th về tội Cướp tài sản. Ngày 29/9/2020, Nông Văn Th đã tự giác đến Công an huyện Hòa An để đầu thú và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như sau:
Khoảng 14 giờ ngày 24/8/2020, tại nhà của Thở Xóm Nà Ch, xã Trương L, huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng, Th có gọi Bố, Mẹ là ông Đặng Văn H và bà Nông Thị L ra bàn ngồi uống nước để nói chuyện hỏi xin lấy Trâu đi bán lấy tiền chuộc xe máy mà Th đem đi cầm cố ở thành phố Cao Bằng nhưng bố, mẹ không đồng ý, sau đó Th lại đòi xin lấy đôi khuyên tai vàng của mẹ đi bán nhưng bố, mẹ không cho. Thấy cuộc nói chuyện trở nên căng thẳng, ông H đứng dậy bỏ xuống dưới nhà, trong nhà chỉ còn lại Th và bà L, Th tỏ thái độ bực tức, dùng tay đập mạnh xuống mặt bàn rồi lại đứng dậy cầm chiếc quạt cây ở bên cạnh đập mạnh xuống sàn nhà làm quạt bị gẫy, vỡ hư hỏng. Sau khi đập quạt xong, Th bước tiếp về phía giá để dao của gia đình để lấy dao, vừa bước Th vừa nói “Không cho cũng lấy, xe hết hạn rồi, không cho tý nhất chết”, lo sợ Th sẽ lấy được dao nên bà L đã chạy theo để ôm, giữ lại. Trong lúc đang bị bà Luyên ôm, giữ, Thxoay người lại và giật lấy 02 (Hai) chiếc khuyên vàng bà đang đeo ở tai làm cho tai bên trái của bà Luyên bị chảy máu. Lấy được đôi khuyên tai, Thsang nhờ ông Lương Văn Th ở cùng xóm, chở xuống thành phố Cao Bằng bán lại cho cửa hàng vàng bạc đá quý Kim tín được 10.232.000 đồng. Có tiền Thđến hiệu cầm đồ Dương Hải ở Phố cũ, phường Hợp Giang, thành phố Cao Bằng chuộc lại xe hết 9.700.000 đồng, đồng thời trả cho ông Thặng 100.000 đồng tiền thuê xe ôm, số tiền còn lại Thchi tiêu cá nhân hết. Sáng ngày 25/8/2020, khi đang đi thịt lợn và nghe thấy mọi người nói chuyện là ông Hội, bà Luyên đã đi báo Công an về sự việc xảy ra, lo sợ sẽ bị bắt, nên Thquay về nhà lấy quần áo, xe máy rồi đi khỏi địa phương đến ngày 29/9/2020 mới quay lại để đầu thú.
Tại bản cáo trạng số 36/CT-VKSHA ngày 23/11/2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòa An, Cao Bằng đã truy tố bị cáo Nông Văn Th phạm tội "Cướp tài sản" theo Khoản 1 Điều 168 Bộ luật hình sự năm 2015.
Tại phiên tòa:
- Bị cáo Nông Văn Th đã khai nhận hành vi phạm tội và nhất trí với tội danh mà Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòa An, Cao Bằng đã truy tố.
- Bị hại bà Nông Thị L nhất trí với việc bị cáo nhận tội cướp tài sản, tuy nhiên do bị cáo là con trong gia đình, còn con nhỏ dưới 5 tuổi nên không yêu cầu bị cáo bồi thường và nhất trí với đề nghị của đại diện Viện kiểm sát trả lại 100.000đ cho bà do người làm chứng ông Thặng giao nộp, do đây là tiền do bán vàng của bà mà có, đề nghị HĐXX giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Ông Đặng Văn Hội, có đơn xin xét xử vắng mặt và ủy quyền cho bà Luyên quyết định vấn đề bồi thường.
- Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên nội dung bản cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: Khoản 1 Điều 168 của Bộ luật hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo Nông Văn Th từ 42 – 48 tháng tù.
Về trách nhiệm dân sự: Do bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không yêu cầu bị cáo phải bồi thường nên không đề nghị HĐXX xem xét.
Về Xử lý vật chứng: Căn cứ các Điều 47 của Bộ luật Hình Sự, Điều 106 của Bộ luật tố tụng Hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử:
- Trả lại 100.000đ cho bà Luyên do đây là số tiền bán vàng của bà Luyên mà có.
Về án phí: Căn cứ Điều 135 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án, buộc bị cáo Thphải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Trợ giúp viên pháp lý trình bày bản luận cứ bào chữa cho bị cáo: Về hành vi bị cáo đã thực hiện và bị Viện kiểm sát truy tố về tội Cướp tài sản là hoàn toàn có căn cứ và đúng quy định của pháp luật. Tuy nhiên, bị cáo Thlà người dân tộc, sống ở vùng sâu, vùng xa, nhận thức pháp luật còn nhiều hạn chế. Bị cáo tại phiên tòa tuy có khai báo không khớp một số điểm so với hồ sơ nhưng cơ bản là bị cáo nhận tội cướp tài sản và lời khai đa phần khớp với lời khai tại cơ quan điều tra, giá trị tài sản bị chiếm đoạt không lớn nên đề nghị HĐXX áp dụng Khoản 1 Điều 168; điểm s khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 xử phạt bị cáo Nông Văn Th mức khởi điểm 36 tháng tù.
Tại phần tranh luận, bị cáo không có ý kiến gì tranh luận với bản luận tội của Kiểm sát viên về tội danh và hình phạt. Khi được nói lời sau cùng, bị cáo đề nghị HĐXX xem xét cho bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử xét thấy như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện Hòa An, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòa An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa ban đầu bị cáo không nhận tội, tuy nhiên qua xét hỏi, tranh luận bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi cướp tài sản mà bị cáo đã thực hiện, lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, qua đó đã chứng minh được: Khoảng 14 giờ ngày 24/8/2020, tại nhà ở của gia đình xóm Nà Chang, Trương Lương, Hòa An, Cao Bằng. Nông Văn Th đã có hành vi đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc thể hiện bằng hành vi đập phá tài sản và đe dọa không cho sẽ chết và tiến đến vị trí để dao của gia đình, làm cho bà Luyên lâm vào tình trạng hoang mang và chạy đến ôm bị cáo để ngăn cản hành vi thì bị cáo đã quay lại chiếm đoạt 01 đôi khuyên tai vàng trị giá 10.232.000 đồng. Do đó, căn cứ vào khoản 1 Điều 168 của Bộ luật hình sự, hành vi của Nông Văn Th đã cấu thành tội phạm Cướp tài sản, khoản 1 Điều 168 của Bộ luật hình sự quy định “Người nào dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc hoặc có hành vi khác, làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự được nhằm chiếm đoạt tài sản, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm”
Như vậy, Viện kiểm sát truy tố bị cáo về tội Cướp tài sản là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.
Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự và nhận thức được hành vi Cướp tài sản của người khác là phạm pháp, nhưng vì bản thân nghiện Heroine nên trước đó bị cáo đã mang xe của gia đình đi cầm cố. Hết thời hạn cầm cố tài sản, để có tiền chuộc xe máy, bị cáo bất chấp pháp luật, thực hiện hành vi cướp tài sản. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm trật tự xã hội, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự trên địa bàn, với giá trị tài sản bị cáo đã chiếm đoạt là 10.232.000 đồng (Mười triệu hai trăm ba mươi hai nghìn đồng). Do đó, bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 1 Điều 168 của Bộ luật hình sự.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự;
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo tự nguyện ra đầu thú, bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Đối với đề nghị của Trợ giúp viên pháp lý cho bị cáo hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ tại điểm s khoản 1 Điều 51 thật thà khai báo, tuy nhiên HĐXX xét thấy, bị cáo tuy nhận tội nhưng phải qua đấu tranh, đối chất giữa điều tra viên, bị hại, người làm chứng tại phiên tòa thì bị cáo mới nhận tội nhưng bị cáo vẫn phủ nhận toàn bộ lời khai tại cơ quan điều tra, lời đối chất và không có chứng cứ chứng minh nên không được coi là thật thà khai báo
Sau khi xem xét tính chất mức độ hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, ý kiến đề nghị của đại diện Viện kiểm sát. Hội đồng xét xử thấy rằng: Bị cáo Nông Văn Th có nhân thân xấu, năm 2012 bị Công an huyện Phục Hòa xử phạt vi phạm hành chính về hành vi trộm cắp tài sản nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học kinh nghiệm, bản thân mắc nghiện Heroine nên trước đó bị cáo đã đem tài sản xe máy của gia đình đi cầm cố. Khi đến hạn, để có tiền chuộc xe bị cáo đã thực hiện hành vi cướp tài sản 01 đôi khuyên tai vàng của bà Nông Thị L đem bán chuộc tài sản. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm hại sức khỏe và tài sản của người khác được pháp luật bảo hộ, bị cáo nghiện Hêroine. Do đó, cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội trong một thời gian nhất định, để bị cáo có cơ hội sửa chữa, cải tạo bản thân trở thành công dân lương thiện có ích cho xã hội sau này. Từ đó, nhằm răn đe, phòng ngừa tội phạm nói chung và tội phạm Cướp tài sản nói riêng. Tuy nhiên khi lượng hình, HĐXX sẽ cân nhắc xem xét cho bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và bị cáo tự nguyện ra đầu thú được quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo không có công ăn việc làm, không có thu nhập, chưa có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Do bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không yêu cầu nên HĐXX không đặt vấn đề xem xét.
Về việc xử lý vật chứng:
Đối với 01 phong bì tiền niêm phong theo quy định, mặt trước phong bì ghi tiền Việt nam đồng: 100.000đ do Lương Văn Th sinh năm 1961, HKTT Nà Chang, Trương Lương, Hòa An, Cao Bằng tự giác giao nộp, đây là tài sản do bán vàng của bà Luyên mà có nên cần trả lại cho bà Luyên là chủ tài sản theo quy định của pháp luật.
Đối với ông Lương Văn Th là người trở Thđi bán vàng, Thặng không biết sự việc cướp tài sản của Thái, chỉ là người lái xe ôm. Do đó, Cơ quan điều tra không đề cập xử lý Thặng là hoàn toàn có căn cứ và phù hợp quy định của pháp luật
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 1 Điều 168; khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo Nông Văn Th.
Tuyên bố: Bị cáo Nông Văn Th phạm tội “ Cướp tài sản”;
Xử phạt: Bị cáo Nông Văn Th 42 (Bốn mươi hai) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, ngày 29/9/2020.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Th.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ các Điều 47 của Bộ luật Hình Sự, Điều 106 của Bộ luật tố tụng Hình sự, Xử:
Trả lại cho bà L Sinh năm: 1967; Trú tại: Xóm Nà Ch, xã Trương L, huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng 01 phong bì tiền niêm phong theo quy định, mặt trước phong bì ghi tiền Việt nam đồng: 100.000đ do Lương Văn Th sinh năm 1961, HKTT Nà Chang, Trương Lương, Hòa An, Cao Bằng tự giác giao nộp
Vật chứng trên hiện đang được lưu tại kho Chi cục thi hành án dân sự huyện Hòa An theo bên bản giao nhận vật chứng ngày 23/11/2020.
Về án phí: Áp dụng Điều 135 Của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
Xử buộc bị cáo Nông Văn Th phải chịu nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm để sung ngân sách Nhà nước Nhà nước.
Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án, ngày 25/12/2020, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc kể từ ngày Bản án được niêm yết.
| N¬i nhËn: - Bị cáo; bị hại, người có QLNVLQ; - VKSND huyÖn Hoµ An; - CCTHADS Hoµ An; - CA huyÖn Hoµ An; - TAND< VKSND, STP tØnh; - L u hå s¬ vô ¸n. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM ThÈm ph¸n - Chñ täa phiªn tßa Đã ký Hoàng Kim Chi |