vanban.org

Bản án 35/2020/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Đức Hòa, tỉnh Long An Tuyên án 20/04/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hoàng Ph phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

tụng hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng Phúc 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Hoàng Ph - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hoàng Ph phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐỨC HÒA
TỈNH LONG AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 35/2020/HS-ST
Ngày: 20 - 4 - 2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mộng Thúy

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Chí Lin;

Bà Trần Thị Đổi;

- Thư ký phiên tòa: Ông Phan Thanh Tú – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An;

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Quốc Trị - Kiểm sát viên;

Trong ngày 20 tháng 4 năm 2020, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 29/2020/TLST-ST, ngày 27 tháng 02 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 27/2020/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 02 năm 2020 đối với:

- Bị cáo: Họ và tên: Nguyễn Hoàng Ph, sinh năm 1994, giới tính Nam.

Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: ấp 3, xã Đức Hòa Đông, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An; Chỗ ở hiện nay: ấp 3, xã Đức Hòa Đông, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An; Nghề nghiệp: không; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn Ph, sinh năm 1972 (sống) và bà Lê Thị Ngọc Đ, sinh năm 1972 (sống); Bản thân chưa có vợ con; Tiền án, tiền sự: không; Biện pháp ngăn chặn: bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 07/01/2020 đến nay, bị cáo có mặt.

- Bị hại:

1. Ông Lê Văn Th, sinh năm 1975.

2. Lê Văn Kh, sinh năm 2008.

Người đại diện hợp pháp của Kha: Ông Lê Văn Th, sinh năm 1975. (Vắng mặt)

Cùng địa chỉ: ấp 3, xã Đức Hòa Đông, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- Ông Nguyễn Cao H, sinh năm 1982. (Vắng mặt)

Địa chỉ: ấp Tràm Lạc, xã Mỹ Hạnh Bắc, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An.

- Bà Trần Thị Anh Th, sinh năm 1994. (Vắng mặt)

Địa chỉ: số 5D, đường số 12, phường An Lạc A, quận Bình Tân, thành phố Hồ Chí Minh.

- Người làm chứng:

1. Bà Nguyễn Thị Kh, sinh năm 1947. (Vắng mặt)

2. Ông Nguyễn Văn Ph, sinh năm 1972. (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 09 giờ ngày 06/01/2020, Nguyễn Hoàng Ph uống rượu cùng cha ruột là ông Nguyễn Văn Ph và ông Lê Văn Th. Đến 11 giờ cùng ngày, ông Ph ra về, ông Th say rượu nên ngủ trên võng. Lúc này, Ph nhìn thấy một điện thoại di động hiệu Realme loại C2 màu đen của Lê Văn Kh (con ruột ông Th) để trên nền gạch cạnh cửa phòng ngủ không có người trông coi nên Ph nảy sinh ý định trộm điện thoại này đem bán lấy tiền tiêu xài cá nhân. Ph đi đến lấy điện thoại bỏ vào túi quần bên phải. Sau khi cất giấu điện thoại, Ph nhìn thấy một xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave RSX màu đỏ đen, biển số 62P1-456.89 của ông Lê Văn Th để trong nhà và có cấm sẳn chìa khóa nên Ph nảy sinh ý định trộm xe. Ph đi đến đẩy xe ra trước sân mở khóa, nổ máy xe sau đó chạy về hướng ngã ba Mỹ Hạnh. Ph mang điện thoại vừa trộm thế chấp tại tiệm cầm đồ TP cơ sở 2 do ông Nguyễn Cao H làm chủ được số tiền 800.000đồng và tiêu xài hết. Đến 14 giờ cùng ngày, Phúc chạy xe mô tô biển số 62P1-456.89 đến tiệm cầm đồ BT thuộc phường Bình Trị Đ, quận Bình Tân, thành phố Hồ Chí Minh do chị Trần Thị Anh Th làm chủ được số tiền 4.000.000đ tiêu xài cá nhân hết. Qua tố cáo của ông Th, đến ngày 07/01/2020 Phúc đến Công an xã Đức Hòa Đông, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An đầu thú và thừa nhận hành vi phạm tội.

Tại kết luận định giá tài sản số 05/KL.ĐGTS ngày 09 tháng 01 năm 2020 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự huyện Đức Hoà, tỉnh Long An, kết luận: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Realme loại C2 màu đen và 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda loại Wave RSX màu đỏ đen, biển số 62P1-456.89 có tổng giá trị là 14.497.000đồng.

Tại bản cáo trạng số 32/CT-VKSĐH ngày 26 tháng 02 năm 2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An truy tố bị cáo Nguyễn Hoàng Ph về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Kiểm sát viên sau khi phân tích, đánh giá tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi mà bị cáo Nguyễn Hoàng Ph gây ra; căn cứ vào các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hoàng Ph phạm tội “Trộm cắp tài sản”

Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017, đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng Ph, mức án từ 09 tháng đến 12 tháng tù.

Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ khoản 2 Điều 48 BLHS năm 2015.

- Đối với ông Nguyễn Cao H là chủ tiệm cầm đồ TP cơ sở 2 đã có hành vi cầm 01 điện thoại di động nhãn hiệu Realme loại C2 màu đen. Tuy nhiên, ông Huy không biết điện thoại do trộm cắp mà có và ông H không yêu cầu gì về trách nhiệm dân sự đối với bị cáo nên không đề cập xử lý.

- Đối với chị Trần Thị Anh Th là chủ tiệm cầm đồ BT đã có hành vi cầm 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda loại Wave RSX màu đỏ đen, biển số 62P1-456.89. Tuy nhiên, chị Th không biết xe do trộm cắp mà có. Chị Th yêu cầu bị cáo Ph bồi thường 3.600.000đ tiền đã cầm xe, không yêu cầu gì về trách nhiệm dân sự đối với bị cáo nên không đề cập xử lý. Tại phiên tòa, bị cáo Ph đồng ý bồi thường cho chị Th là phù hợp nên đề nghị HĐXX ghi nhận.

Về tang vật: Ông Lê Văn Th, Lê Văn Kh sau khi đã nhận lại 01 điện thoại di động nhãn hiệu Realme loại C2 màu đen và 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda loại Wave RSX màu đỏ đen, biển số 62P1-456.89 không có yêu cầu gì về trách nhiệm dân sự nên không đề cập xử lý.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa những người tham gia tố tụng không ai có ý kiến hoặc kiếu nại gì về hành vi, quyết định của những người tiến hành tố tụng đã thực hiện.

Xuất phát từ việc bị cáo Nguyễn Hoàng Ph là người nghiện game bắn cá do muốn có tiền để chơi game mà không cần bỏ ra công sức lao động do chây lười nên khoảng 11 giờ ngày 06/01/2020, tại nhà ông Lê Văn Th thì Ph nhìn thấy một điện thoại di động hiệu Realme loại C2 màu đen của Lê Văn Kh (con ruột ông Th) để trên nền gạch cạnh cửa phòng ngủ không có người trông coi nên Ph nảy sinh ý định trộm điện thoại này đem bán lấy tiền tiêu xài cá nhân. Ph đi đến lấy điện thoại bỏ vào túi quần bên phải. Sau khi cất giấu điện thoại, Ph nhìn thấy một xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave RSX màu đỏ đen, biển số 62P1-456.89 của ông Lê Văn Th để trong nhà và có cấm sẳn chìa khóa nên Ph nảy sinh ý định trộm xe. Ph đi đến đẩy xe ra trước sân mở khóa, nổ máy xe sau đó chạy về hướng ngã ba Mỹ Hạnh. Ph mang điện thoại vừa trộm thế chấp tại tiệm cầm đồ TP cơ sở 2 do ông Nguyễn Cao H làm chủ được số tiền 800.000đồng và tiêu xài hết. Đến 14 giờ cùng ngày, Ph chạy xe mô tô biển số 62P1-456.89 đến tiệm cầm đồ BT thuộc phường Bình Trị Đ, quận Bình Tân, thành phố Hồ Chí Minh do chị Trần Thị Anh Th làm chủ được số tiền 4.000.000đ tiêu xài cá nhân hết. Đến ngày 07/01/2020, Ph đến Công an xã Đức Hòa Đông đầu thú và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Hành vi của bị cáo Nguyễn Hoàng Ph đã vi phạm vào khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.

Lời khai nhận của bị cáo Nguyễn Hoàng Ph trước Tòa phù hợp với lời khai của bị hại Lê Văn Th, người làm chứng Nguyễn Thị Kh và Nguyễn Văn Ph phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường, sơ đồ hiện trường, biên bản tiếp nhận người phạm tội ra đầu thú và tang vật chứng thu giữ đã được thẩm tra xác minh công khai tại phiên Tòa, phù hợp với nội dung bản cáo trạng. Từ đó, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ để kết luận bị cáo Nguyễn Hoàng Ph phạm tội “Trộm cắp tài sản” tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017. Như vậy, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An truy tố bị cáo Nguyễn Hoàng Ph với tội danh và Điều luật trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản mà bị cáo Nguyễn Hoàng Ph gây ra là nguy hiểm cho xã hội. Hành vi này đã xâm hại trực tiếp đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của ông Lê Văn Th và cháu Lê Văn Kh được pháp luật Hình sự bảo vệ. Hành vi phạm tội của bị cáo Ph không những xâm hại trực tiếp đến tài sản hợp pháp của ông Th và cháu Kh mà còn gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự xã hội tại địa phương. Khi thực hiện hành vi, bị cáo Ph có đủ năng lực trách nhiệm hình sự và nhận thức được hành vi của bị cáo là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn bất chấp pháp luật thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp. Hành vi trái pháp luật của bị cáo cần xử lý theo pháp luật Hình sự.

Tình tiết giảm nhẹ: Sau khi phạm tội bị cáo thành khẩn khai báo, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Đây là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s, điểm i khoản 1 Điều 51 BLHS; bị cáo có đến cơ quan công an đầu thú khi đã thực hiện hành vi phạm tội, đây được xem là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS nên khi áp dụng hình phạt có xem xét giảm nhẹ cho bị cáo một phần nhưng cần thiết cách ly bị cáo với xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo Ph không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 1 Điều 52 BLHS.

Đối với ông Th và ông đại diện cháu Kh không có yêu cầu bồi thường gì về trách nhiệm dân sự nên không đề cập xem xét.

Đối với ông Nguyễn Cao H là chủ tiệm cầm đồ TP cơ sở 2 đã có hành vi cầm 01 điện thoại di động nhãn hiệu Realme loại C2 màu đen. Tuy nhiên, ông H không biết điện thoại do trộm cắp mà có và ông H không yêu cầu gì về trách nhiệm dân sự đối với bị cáo nên không đề cập xem xét.

Đối với chị Trần Thị Anh Th là chủ tiệm cầm đồ BT đã có hành vi cầm 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda loại Wave RSX màu đỏ đen, biển số 62P1-456.89. Tuy nhiên, chị Th không biết xe do trộm cắp mà có. Chị Th yêu cầu bị cáo Ph bồi thường 3.600.000đ tiền đã cầm xe. Tại phiên tòa, bị cáo Ph đồng ý bồi thường cho chị Th là phù hợp nên ghi nhận.

Bị cáo Nguyễn Hoàng Ph phải chịu án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng và 300.000 đồng án phí DSST sung vào Ngân sách Nhà nước.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hoàng Ph phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Căn cứ điểm điểm khoản 1 Điều 173; điểm s,i khoản 1 và khoản 2 Điều 51,

Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ dung 2017 và Điều 329 Bộ luật tố

tụng hình sự.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng Phúc 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ

ngày 07/01/2020. Tiếp tục tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày 20/4/2020 để đảm

bảo cho việc kháng cáo, kháng nghị và thi hành án.

Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ khoản 2 Điều 48 BLHS năm 2015 Buộc bị

cáo Nguyễn Hoàng Ph phải bồi thường cho chị Trần Thị Anh Th 3.600.000 đồng

(Ba triệu sáu trăm ngàn đồng).

Áp dụng khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự tính lãn chậm thi hành.

Về án phí: Áp dụng Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016;

buộc bị cáo Nguyễn Hoàng Ph phải nộp 200.000 đồng án phí HSST và 300.000

đồng án phí DSST sung vào Ngân sách Nhà nước.

Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án những người tham gia tố tụng

có mặt được quyền kháng cáo xin xét xử phúc thẩm, những người vắng mặt được

quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết

hợp lệ .

“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật

Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân

sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi

hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định các điều 6, 7 và 9 Luật Thi

hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30

Luật thi hành án dân sự”.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ