vanban.org

Bản án 35/2020/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Đông Hải, tỉnh Bạc Liêu Tuyên án 22/09/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố các bị cáo Huỳnh Xuân Đ (Cu Bò), Tiền Út A và Châu Quốc T (Tý Ruồi) phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

1. Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Các Điều 17, 38 và 58 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Huỳnh Xuân Đ (Cu Bò) 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ, tam giam từ ngày 28/4/2020. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Huỳnh Xuân Đ và đồng bọn phạm tội trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố các bị cáo Huỳnh Xuân Đ (Cu Bò), Tiền Út A và Châu Quốc T (Tý Ruồi) phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 17 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐÔNG HẢI
TỈNH BẠC LIÊU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 35/2020/HS-ST
Ngày: 22-9-2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG HẢI, TỈNH BẠC LIÊU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lưu Hải Đăng

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Thanh Tiền

Chức vụ: Phó Hiệu trưởng trường tiểu học Nguyễn Du, xã Long Điền Đông, huyện Đông Hải, tỉnh Bạc Liêu.

2. Bà Đỗ Kim Phụng

Chức vụ: Phó ban Dân vận huyện ủy huyện Đông Hải, tỉnh Bạc Liêu.

- Thư ký phiên tòa: Ông Trương Quốc Đại, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đông Hải, tỉnh Bạc Liêu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Hải, tỉnh Bạc Liêu tham gia phiên tòa: Ông Châu Hoa Đăng - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 9 năm 2020 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đông Hải, tỉnh Bạc Liêu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 41/2020/TLST-HS, ngày 24 tháng 8 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 40/2020/QĐXXST-HS, ngày 08 tháng 9 năm 2020 đối với các bị cáo:

1. Huỳnh Xuân Đ (tên gọi khác: CB), sinh năm 1998 tại GR – Bạc Liêu; nơi cư trú: Khóm 2, phường LT, thị xã GR, tỉnh Bạc Liêu; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 05/12; con ông Huỳnh Văn U, sinh năm 1977 và bà Nguyễn Thị Thanh P, sinh năm 1971; anh chị em gồm có 01 người sinh năm 1994; chung sống như vợ chồng với Danh Thị Thanh Ng, sinh năm 1998; có 01 người con, sinh năm 2017; tiền án: Không; tiền sự: 01 tiền sự, ngày 22/9/2017 bị Tòa án nhân dân thị xã GR, tỉnh Bạc Liêu xử phạt đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc 24 tháng theo Quyết định số 24/2017/QĐ-TA đến ngày 27/9/2019 thì chấp hành xong đến nay chưa được xóa tiền sự; bị cáo Huỳnh Xuân Đ đang bị tạm giữ, tam giam từ ngày 29/4/2020 và đang bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện HB, tỉnh Bạc Liêu khởi tố, điều tra về hành vi “Trộm cắp tài sản”. (có mặt)

2. Tiền Út A, sinh năm 1994 tại HB – Bạc Liêu; nơi cư trú: Ấp TTA, thị trấn HB, huyện HB, tỉnh Bạc Liêu; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 01/12; con ông Tiền Gh (đã chết); và bà Danh Thị M, sinh năm 1955; anh chị em gồm có 04 người, lớn nhất sinh năm 1988, nhỏ nhất sinh năm 2003; tiền án: không, ngày 20/11/2015 bị Tòa án nhân dân huyện HB, tỉnh Bạc Liêu xử phạt 06 tháng tù về tội “trộm cắp tài sản”, chấp hành xong ngày 11/02/2016 đến ngay đã được xóa án tích; tiền sự: 01 tiền sự, ngày 28/8/2017 bị Tòa án nhân dân huyện HB, tỉnh Bạc Liêu xử phạt đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc 24 tháng theo Quyết định số 15/QĐ-TA đến ngày 30/8/2019 thì chấp hành xong đến nay chưa được xóa tiền sự; bị cáo đang bị tạm giữ, tam giam từ ngày 28/4/2020 tại Nhà tạm giữ Công an huyện ĐH đến nay (có mặt)

3. Châu Quốc T (tên gọi khác: TR); sinh năm: 1987 tại HB – Bạc Liêu; nơi cư trú: Ấp AK, xã VM B, huyện HB, tỉnh Bạc Liêu; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 8/12; con ông không rõ tên cha và bà Châu Kim H, sinh năm 1961; anh chị em gồm có 01 người sinh năm 1989; tiền án: không, ngày 17/3/2011 bị Tòa án nhân dân huyện HM, thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 02 năm tù về tội “tràng trữ trái phép chất ma túy”, ngày 12/11/2014 bị Tòa án nhân dân thành phố CM, tỉnh cà Mau xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội “tàng trữ trái phép chất ma túy”, chấp hành án xong ngày 15/7/2016 đến nay đã được xóa án tích.; tiền sự: 01 tiền sự, ngày 21/11/2018 bị Tòa án nhân dân huyện HB, tỉnh Bạc Liêu xử phạt đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc 12 tháng theo Quyết định số 28/2018/QĐ-TA đến ngày 25/10/2019 thì chấp hành xong đến nay chưa được xóa tiền sự; bị cáo đang bị tạm giữ, tam giam từ ngày 28/4/2020 tại Nhà tạm giữ Công an huyện ĐH đến nay. (có mặt)

- Bị hại: Anh Phạm Văn B, sinh năm 1986; địa chỉ: Ấp MĐ, xã LĐ ĐA, huyện ĐH, tỉnh Bạc Liêu.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

1. Ông Nguyễn Văn C, sinh năm 1967; địa chỉ: Ấp TTA, xã AT, huyện ĐH, tỉnh Bạc Liêu (vắng mặt)

2. Anh Nguyễn Hoàng D, sinh ngày 25/02/2005; địa chỉ: Ấp 19, xã PT, thị xã GR, tỉnh Bạc Liêu. (Vắng mặt)

Người đại diện hợp pháp của Nguyễn Hoàng D: Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1947; địa chỉ: Ấp 19, xã PT, thị xã GR, tỉnh Bạc Liêu là ông nội của D. (vắng mặt)

3. Anh Dương Hoàng K, sinh ngày 09/02/2005; địa chỉ: Ấp 19, xã PT, thị xã GR, tỉnh Bạc Liêu (vắng mặt)

Người đại diện hợp pháp của Dương Hoàng K: Bà Huỳnh Thị Thu L, sinh năm 1970; địa chỉ: Ấp 19, xã PT, thị xã GR, tỉnh Bạc Liêu là mẹ ruột của K. (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 22 giờ ngày 27/4/2020, tại nhà của bị cáo Huỳnh Xuân Đ, địa chỉ: Khóm 4, Phường 1, thị xã GR, tỉnh Bạc Liêu, bị cáo Đ cùng với các bị cáo Tiền Út A, Châu Quốc T và đối tượng Nguyễn Hoàng D, sinh ngày 25/02/2005 ở ấp 19, xã PT, thị xã GR, tỉnh Bạc Liêu có bàn bạc thống nhất cùng nhau đi lấy trộm tài sản để bán lấy tiền tiêu xài. Sau khi bàn bạc xong thì bị cáo Đ điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Wave anpha màu xanh – đen, biển số 94K2-022.19 chở bị cáo Út A, còn bị cáo T điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Wave màu xanh, biển số 94F4-5042 chở D đi tìm tài sản để lấy trộm. Đến khoảng hơn 00 giờ ngày 28/4/2020 cả nhóm điều khiển xe chạy đến nhà anh Phạm Văn B, sinh năm 1986, địa chỉ ấp MĐ, xã LĐ ĐA, huyện ĐH, tỉnh Bạc Liêu thì bị cáo Út A nhìn chiếc xe máy của anh B nên bị cáo Đ dừng xe lại cho bị cáo Út A vào nhà lấy trộm xe còn bị cáo Đ ở ngoài cảnh giới cho bị cáo Út A. Trong lúc bị cáo Út A vào nhà lấy trộm xe thì bị cáo T điều khiển xe chạy qua thì bị cáo Đ ra dấu hiệu cho bị cáo T chạy về phía trước để tránh bị phát hiện. Khi bị cáo Út A vào nhà lén lút dẫn xe ra đường lộ khoảng 10 mét thì anh B phát hiện nên truy hô thì bị cáo Út A bỏ chạy ra lộ và được bị cáo Đ đến đón và tẩu thoát. Còn bị cáo T và D khi chạy về phía trước nghe có tiếng người truy hô nên quay xe chạy lại nhằm mục đích ngăn cản việc truy đuổi của mọi người để hỗ trợ đồng bọn chạy thoát thì bị anh B giữ lại mời về Công an Xã LĐ ĐA làm việc.

Tại bản kết luận định giá tài sản số: 23/HĐ ngày 05/5/2020 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình hình sự huyện ĐH kết luận: Chiếc xe máy nhãn hiệu Yamaha, loại Sirius, màu đen xanh, biển kiểm soát 94B1-209.54, số máy: 1FC3146851 số khung: FC30FY146834 (đã qua sử dụng) tại thời điểm ngày 28/4/2020, giá trị còn lại là: 9.400.000 đồng.

Tại cáo trạng số: 39/CT-VKS-KSĐT, ngày 24 tháng 8 năm 2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Hải, tỉnh Bạc Liêu truy tố các bị cáo Huỳnh Xuân Đ, Tiền Út A và Châu Quốc T về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.

Kiểm sát viên thực hành quyền công tố tại phiên tòa có quan điểm không thay đổi so với bản cáo trạng đã truy tố đối với các bị cáo và có quan điểm đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51, các Điều 17, 38 và 58 Bộ luật Hình sự: xử phạt bị cáo các bị cáo Huỳnh Xuân Đ, Tiền Út A và Châu Quốc T mức án từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại anh Nguyễn Văn B đã nhận lại tài sản và không đặt ra yêu cầu gì, nên đề nghị Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.

Về vật chứng của vụ án: 01 (Một) tấm ốp đầu đèn xe màu đỏ đen, kích thước 43x20 cm; 01 (Một) tấm ốp đầu đèn xe màu đen, kích thước 43x22 cm do bị can Huỳnh Xuân Đ lén lút chiếm đoạt của ai, ở đâu không rõ. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đông Hải đã thông báo thông tin tội phạm số: 33 ngày 17/7/2020 đối với vụ việc trên Do tài sản trên chưa xác định được chủ sở hữu nên đang được quản lý tại Kho vật chứng thuộc Công an huyện Đông Hải. Đề nghị tiếp tục giao cho Công an huyện Đông Hải quản lý và xử lý theo quy định của pháp luật.

Trả lại cho bị cáo Huỳnh Xuân Đ: 01 (Một) xe mô tô nhãn hiệu Honda, số loại Wave, màu xanh, biển kiểm soát 94F4-5042, số khung VTMDCH102YT014811, số máy 1P39FHP-310012432.

Tịch thu tiêu hủy: 01 (Một) bình xịt bằng kim loại màu xanh rêu, nhãn hiệu NATO; 01 (Một) cây dao tự chế bằng kim loại, cán dao quấn băng keo đen chiều dài 82 cm của bị can Huỳnh Xuân Đ sử dụng trái phép.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Các bị cáo Huỳnh Xuân Đ, Tiền Út A và Châu Quốc T phải chịu theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về thủ tục tố tụng:

[1.1]. Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng trong điều tra, truy tố và xét xử: Hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định tại Bộ luật Tố tụng hình sự, quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, các bị cáo, bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[1.2]. Về sự vắng mặt của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án và người đại diện: Xét thấy, trong hồ sơ vụ án đã có đầy đủ lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, sự vắng mặt này không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án, nên căn cứ vào Điều 292, 293 của Bộ luật tố Tụng hình sự năm 2015, xét xử vắng mặt bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là phù hợp.

[2]. Về chứng cứ xác định hành vi phạm tội của các bị cáo:

[2.1]. Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay các bị cáo đã khai nhận thực hiện hành vi phạm tội của mình đúng như Bản cáo trạng 39/CT-VKS-KSĐT, ngày 24 tháng 8 năm 2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Hải, tỉnh Bạc Liêu. Lời nhận tội của các bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án về thời gian, địa điểm, hành vi phạm tội của các bị cáo. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định: Vì động cơ vụ lợi cá nhân nên vào khoảng hơn 00 giờ ngày 28/4/2020, tại ấp MĐ, xã LĐ ĐA, huyện ĐH, tỉnh Bạc Liêu các bị cáo Huỳnh Xuân Đ, Tiền Út A và Châu Quốc T cùng nhau lén lút chiếm đoạt chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, kiểu dáng Sirius của bị hại anh Phạm Văn B.

[2.2]. Tại bản kết luận định giá tài sản số: 23/HĐ ngày 05/5/2020 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình hình sự huyện Đông Hải kết luận: Chiếc xe máy nhãn hiệu Yamaha, loại Sirius, màu đen xanh, biển kiểm soát 94B1-209.54, số máy: 1FC3146851 số khung: FC30FY146834 (đã qua sử dụng) tại thời điểm ngày 28/4/2020, giá trị còn lại là: 9.400.000 đồng.

Vì vậy, cáo trạng số 39/CT-VKS-KSĐT, ngày 24 tháng 8 năm 2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Hải, tỉnh Bạc Liêu đã truy tố các bị cáo Huỳnh Xuân Đ, Tiền Út A và Châu Quốc T về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa hôm nay bị cáo cũng đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình và xin Hội đồng xét xử giảm nhA hình phạt cho bị cáo.

[3]. Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng và giảm nhA trách nhiệm hình sự:

Xét tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác một cách trái pháp luật, mà quyền này được pháp luật hình sự bảo vệ. Hành vi của các bị cáo không những gây tâm lý hoang mang trong quần chúng nhân dân không yên tâm lao động sản xuất mà còn gây mất trật tự trị an nơi xảy ra tội phạm. Các bị cáo trong lúc thực hiện hành vi phạm tội đều là người có khả năng nhận thức được việc trộm cắp tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng các bị cáo vẫn thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp. Vì vậy các bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự do chính hành vi của bị cáo gây ra.

Trong vụ án có ba bị cáo thực hiện tội phạm, nên cần phân tích đánh giá hành vi của từng bị cáo, trên cơ sở xem xét đề xuất của Viện kiểm sát để cân nhắc và áp dụng hình phạt đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật cụ thể:

[3.1]. Bị cáo Huỳnh Xuân Đ là người khởi xướng, rủ rê các bị cáo Châu Quốc T và Tiền Út A tìm tài sản để trộm cắp và là người trực tiếp điều khiển xe mô tô để chở bị cáo Út A, đồng thời bị cáo cảnh giới để bị cáo Út A vào trộm cắp tài sản của bị hại; bị cáo có thống nhất với các bị cáo Út A và T về hành vi phạm tội, nên các bị cáo là đồng phạm và phải cùng chịu trách nhiệm về giá trị tài sản chiếm đoạt.

[3.2]. Bị cáo Tiền Út A trực tiếp vào lấy tài sản của anh Phạm Văn B; bị cáo có thống nhất với các bị cáo Đ và T về hành vi phạm tội, nên các bị cáo là đồng phạm và phải cùng chịu trách nhiệm về giá trị tài sản chiếm đoạt.

[3.3]. Bị cáo Châu Quốc T tham gia trộm cắp tài sản cùng với các bị cáo Đ và Út A, bị cáo là người hưởng ứng giúp sức tích cực, bị cáo có thống nhất với các bị cáo Đ và Út A về hành vi phạm tội, bị cáo đã quay xe lại nhằm hổ trợ cho bị cáo Đ và Út A chạy thoát, nên các bị cáo là đồng phạm và phải cùng chịu trách nhiệm về giá trị tài sản chiếm đoạt.

[4]. Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của các bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy: Các bị cáo Huỳnh Xuân Đ, Tiền Út A và Châu Quốc T đều có nhân thân xấu.

[4.1]. Bị cáo Đ có 01 tiền sự, ngày 22/9/2017 bị Tòa án nhân dân thị xã GR, tỉnh Bạc Liêu xử phạt đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc 24 tháng đến ngày 27/9/2019 thì chấp hành xong.

[4.2]. Bị cáo Út A ngày 20/11/2015 bị Tòa án nhân dân huyện HB, tỉnh Bạc Liêu xử phạt 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành án xong ngày 11/02/2016 đến nay đã được xóa án tích và có 01 tiền sự, ngày 28/8/2017 bị Tòa án nhân dân huyện HB, tỉnh Bạc Liêu xử phạt đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc 24 tháng đến ngày 30/8/2019 thì chấp hành xong.

[4.3]. Bị cáo T ngày 17/3/2011 bị Tòa án nhân dân huyện HM, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 02 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và ngày 12/11/2014 bị Tòa án nhân dân thành phố CM, tỉnh Cà Mau xử phạt 02 năm 06 tháng tù vể tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, chấp hành án xong ngày 15/7/2016 đến nay đã được xóa án tích và 01 tiền sự, ngày 21/11/2018 bị Tòa án nhân dân huyện HB, tỉnh Bạc Liêu xử phạt đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc 12 tháng đến ngày 25/10/2019 thì chấp hành xong.

[4.4] Các bị cáo Huỳnh Xuân Đ, Tiền Út A và Châu Quốc T không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo Huỳnh Xuân Đ, Tiền Út A và Châu Quốc T đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự nên cần xem xét áp dụng để giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo.

Sau khi xem xét, phân tích đánh giá tính chất mức độ, hành vi phạm tội cũng như các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của các bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy cần phải cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định đủ để giáo dục ý thức chấp hành pháp luật của các bị cáo, giáo dục cho các bị cáo trở thành những công dân có ích cho xã hội.

[5]. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại anh Phạm Văn B đã nhận lại được tài sản 01 (Một) xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, số loại Sirius màu đen xanh, biển số 94B1-209.54, số khung FC30FY146834, số máy 1FC3146851 và không có yêu cầu gì nên không xem xét.

Đối với các vụ trộm cắp tài sản mà bị cáo Huỳnh Xuân Đ và đối tượng Dương Hoàng K, sinh ngày 09/02/2005 trộm được của anh Nguyễn Văn C, ở ấp TTA, xã AT, huyện ĐH, tỉnh Bạc Liêu có giá trị là 1.960.000 đồng (một triệu chín trăm sáu mươi ngàn đồng). Hiện nay ông Nguyễn Văn C có yêu cầu bồi thường số tiền trên.

Tại phiên tòa bị cáo Huỳnh Xuân Đ xác định bị cáo tự nguyện một mình bị cáo đồng ý bồi thường cho ông Nguyễn Văn C số tiền 1.960.000đ, nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

[6]. Về vật chứng vụ án:

- 01 (Một) xe mô tô nhãn hiệu Honda, số loại Wave anpha màu xanh - đen, biển số 94K2-022.19, số khung RLHJA3910LY088844, số máy JA39E-14213049 do bị cáo Tiền Út A mượn của chị Tiền L (là em ruột của bị cáo) điều khiển thực hiện hành vi phạm tội nhưng chị L không biết nên đã trao trả cho chị Lủng là chủ sở hữu hợp pháp để quản lý sử dụng theo quy định pháp luật.

- 01 (Một) xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, số loại Sirius màu đen xanh, biển số 94B1-209.54, số khung FC30FY146834, số máy 1FC3146851 đã trao trả cho anh Phạm Văn B là bị hại trong vụ án để quản lý sử dụng theo quy định pháp luật.

- 01 (Một) đầu bò xe mô tô kích thước 15x10 cm; 01 (Một) cây dao cán nhựa màu đen, lười dao bằng kim loại màu ánh vàng hình răng cưa, mũi nhọn, chiều dài 30cm; 01 (Một) cây kéo có cán màu đen, lưỡi kim loại, chiều dài 23cm; 01 (Một) cây dao có cán nhựa màu đen, lưỡi kim loại màu bạc, một bề hình răng cưa, một bề sắc nhọn, chiều dài 20cm; 01 (Một) cây cưa có cán bằng gỗ, lưỡi bằng kim loại hình răng cưa, chiều dài 50 cm; 01 (Một) micro màu đen không rõ nhãn hiệu; 01 (Một) cặp bửng chắn gió xe mô tô màu xanh nhớt chiều dài 70 cm, chiều ngang rộng nhất 28 cm; 01 (Một) đầu đèn xe màu đen bị vỡ, kích thước 43x20cm; 01 (Một) TV nhãn hiệu SAMSUNG màu đen vỡ màn hình, bị hư hỏng, kích thước 73x43 cm đều là tài sản của bị can Huỳnh Xuân Đ và Danh Thị Thanh Ngọc không có liên quan đến vụ án, nên Viện kiểm sát quyết định trả lại cho Danh Thị Thanh Ng đúng theo quy định pháp luật.

- 01 (Một) máy phát đĩa nhãn hiệu MEXITON màu trắng, kích thước 43x24 cm; 01 (Một) thùng loa màu nâu không rõ nhãn hiệu, đã bị hư hỏng, kích thước 25x24 cm; 01 (Một) dàn lược âm thanh màu đen nhãn hiệu MEXITON, kích thước 47x19 cm; 02 (Hai) thùng loa nhãn hiệu MEXITON màu đen, đồng kích thước 30x33x83cm là tài sản sở hữu hợp pháp của ông Nguyễn Văn C và bà Trần Thị Ng (cha mẹ ruột của Nguyễn Hoàng D) hiện nay vắng mặt tại địa phương, không xác định được đang ở đâu nhờ ông Nguyễn Văn T quản lý, nên Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Hải quyết định trả lại cho ông T quản lý sử dụng đúng theo quy định của pháp luật.

- 01 (Một) tấm ốp đầu đèn xe màu đỏ đen, kích thước 43x20 cm; 01 (Một) tấm ốp đầu đèn xe màu đen, kích thước 43x22 cm do bị cáo Huỳnh Xuân Đ lén lút chiếm đoạt của ai, ở đâu không rõ. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đông Hải đã thông báo thông tin tội phạm số: 33 ngày 17/7/2020 đối với vụ việc trên. Do tài sản trên chưa xác định được chủ sở hữu và đang được quản lý tại Kho vật chứng thuộc Công an huyện Đông Hải, nên cần tiếp tục giao cho Công an huyện Đông Hải xử lý theo quy định của pháp luật.

- 01 (Một) bình xịt bằng kim loại màu xanh rêu, nhãn hiệu NATO; 01 (Một) cây dao tự chế bằng kim loại, cán dao quấn băng keo đen chiều dài 82 cm; của bị cáo Huỳnh Xuân Đ sử dụng trái phép. Bị cáo không có yêu cầu gì, nên cần tịch thu tiêu hủy là phù hợp.

- 01 (Một) xe mô tô nhãn hiệu Honda, số loại Wave, màu xanh, biển kiểm soát 94F4-5042, số khung VTMDCH102YT014811, số máy 1P39FHP-310012432 là phương tiện chung của chị Danh Thị Thanh Ng và bị cáo Huỳnh Xuân Đ, do khi bị cáo Châu Quốc T mượn xe và sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội thì chị Ngọc không biết, nên cần trả lại tài sản này cho bị cáo Đ là phù hợp.

Đối với các vật chứng có liên quan đến các vụ án ở các địa phương khác thụ lý đã chuyển đến Cơ quan có thẩm quyền giải quyết theo quy định của pháp luật.

[7]. Về hình phạt bổ sung: Xét thấy các bị cáo Huỳnh Xuân Đ, Tiền Út A và Châu Quốc T không có việc làm và thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phù hợp.

Đối với Dương Hoàng K trộm cắp tài sản nhưng chưa đủ định lượng để cấu thành tội phạm và cũng chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự nên Cơ quan điều tra không đề nghị truy cứu trách nhiệm hình sự là có căn cứ.

Đối với Nguyễn Hoàng D sinh ngày 25/02/2005 khi thực hiện hành vi trộm cắp tài sản chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự nên Cơ quan điều tra không xử lý hình sự là có căn cứ.

Đối với Danh Thị Thanh Ng không biết việc các bị cáo Huỳnh Xuân Đ, Châu Quốc T, Tiền Út A và Nguyễn Hoàng Dương bàn bạc cùng nhau đi trộm cắp tài sản nên Cơ điều tra không đề cặp xử lý là có căn cứ.

Đối với Tiền L khi cho bị can Tiền Út A mượn xe mô tô không biết bị can Út A dùng vào việc phạm tội nên Cơ quan điều tra không xử lý là có căn cứ.

[8]. Án phí hình sự sơ thẩm: Các bị cáo Huỳnh Xuân Đ, Châu Quốc T và Tiền Út A phải chịu theo quy định của pháp luật.

[9]. Xét thấy ý kiến đề nghị của Kiểm sát viên về tội danh, tình tiết giảm nhA và các vấn đề có liên quan trong vụ án là có căn cứ nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố các bị cáo Huỳnh Xuân Đ (Cu Bò), Tiền Út A và Châu Quốc T (Tý Ruồi) phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

1.1. Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Các Điều 17, 38 và 58 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Huỳnh Xuân Đ (Cu Bò) 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ, tam giam từ ngày 28/4/2020.

1.2. Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Các Điều 17, 38 và 58 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Tiền Út A 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ, tam giam từ ngày 29/4/2020.

1.3. Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Các Điều 17, 38 và 58 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Châu Quốc T (Tý Ruồi) 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ, tam giam từ ngày 28/4/2020.

2. Về vật chứng vụ án: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

- 01 (Một) tấm ốp đầu đèn xe màu đỏ đen, kích thước 43x20 cm; 01 (Một) tấm ốp đầu đèn xe màu đen, kích thước 43x22 cm do bị cáo Huỳnh Xuân Đ lén lút chiếm đoạt của ai, ở đâu không rõ. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đông Hải đã thông báo thông tin tội phạm số: 33 ngày 17/7/2020 đối với vụ việc trên. Do tài sản trên chưa xác định được chủ sở hữu nên đang được quản lý tại Kho vật chứng thuộc Công an huyện Đông Hải. Tiếp tục giao cho Công an huyện Đông Hải quản lý và xử lý theo quy định của pháp luật.

Tịch thu tiêu hủy: 01 (Một) bình xịt bằng kim loại màu xanh rêu, nhãn hiệu NATO; 01 (Một) cây dao tự chế bằng kim loại, cán dao quấn băng keo đen chiều dài 82 cm; của bị can Huỳnh Xuân Đ sử dụng trái phép. Hiện vật chứng đang được quản lý theo quy định của pháp luật.

Trả lại cho bị cáo Huỳnh Xuân Đ: 01 (Một) xe mô tô nhãn hiệu Honda, số loại Wave, màu xanh, biển kiểm soát 94F4-5042, số khung VTMDCH102YT014811, số máy 1P39FHP-310012432. Hiện vật chứng đang được quản lý theo quy định của pháp luật.

(Các vật chứng trên hiện Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đông Hải, tỉnh Bạc Liêu đang quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 31/8/2020).

3/. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại anh Phạm Văn B đã nhận lại được tài sản 01 (Một) xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, số loại Sirius màu đen xanh, biển số 94B1-209.54, số khung FC30FY146834, số máy 1FC3146851 và không có yêu cầu gì nên không xem xét.

Ghi nhận sự tự nguyện của bị cáo Huỳnh Xuân Đ (Cu Bò). Buộc bị cáo Huỳnh Xuân Đ có nghĩa vụ bồi thường cho ông Nguyễn Văn C số tiền 1.9640.000đ.

4. Về án phí hình sự: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc các bị cáo Huỳnh Xuân Đ, Tiền Út A và Châu Quốc T mỗi bị cáo phải nộp 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng tại Chi cục thi hành án dân sự.

Án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch: Buộc bị cáo Huỳnh Xuân Đ phải nộp số tiền là 300.000đ tại Chi cục thi hành án dân sự.

Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với bị hại, người đại diện và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống Đ hợp lệ theo quy định của pháp luật.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Cỡ chữ