- Tranh chấp gì? án hình sự — "Giang Văn S - Cố ý gây thương tích - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ s…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Giang Văn S phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 134 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẠC LIÊU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 35/2020/HS-PT Ngày 06 - 3 - 2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẠC LIÊU
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Châu Văn Mỹ
Các Thẩm phán:
Ông Cao Văn Tám
Ông Lê Thanh Danh
- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Tuấn Duy, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bạc Liêu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bạc Liêu tham gia phiên tòa: Ông Quan Tuấn Nghĩa, Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 3 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bạc Liêu xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 30/2020/TLPT-HS ngày 06 tháng 02 năm 2020 đối với bị cáo Giang Văn S, do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 51/2019/HS-ST ngày 26 tháng 12 năm 2019 của Tòa án nhân dân thị xã Giá Rai, tỉnh Bạc Liêu.
- Bị cáo có kháng cáo:
Họ và tên: Giang Văn S, sinh năm 1980 tại Bạc Liêu. Nơi cư trú: Ấp 3B, xã T, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hóa (học vấn): 03/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Giang Văn P và bà Trần Thị L; có vợ tên Bùi Thị T, sinh năm 1978; có 02 người con, lớn sinh năm 2001, nhỏ sinh năm 2003; tiền án: Không; tiền sự: Không. Bị cáo tại ngoại, (vắng mặt).
Ngoài ra còn có bị hại là anh Trần Trường N và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh Trần Trường T không có kháng cáo và không liên quan đến kháng cáo nên Tòa án không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Vào khoảng 19 giờ 00 phút, ngày 10/12/2018, Giang Văn S và gia đình thuê xe taxi hãng M do tài xế Trần Trường N điều khiển chở người thân từ ấp 3B, xã T đến Trung tâm y tế thị xã G để khám bệnh. Khi đến Trung tâm y tế thì cháu dâu của S tên Kiều N1 trả tiền xe là 170.000 đồng nhưng bị cáo S nhìn đồng hồ chỉ có 120.000 đồng nên giữa S và N xảy ra cự cải và được bảo vệ Trung tâm y tế can ngăn. Đến khoảng 21 giờ cùng ngày S và N tiếp tục xảy ra cự cải, lúc này có người gọi báo cho Trần Trường T là em ruột của N biết nên T đã điều khiển xe va chạm vào người của S làm cả hai đều té ngã, S nhìn thấy T rút dây nịt ra nên chạy vào bụi cây gần đó nhặt cục gạch ống có kết dính xi măng (bê tông) liền quay lại và thấy Trần Trường N có cầm khúc cây, S ném cục gạch thẳng vào vùng đầu mặt bên trái của Trần Trường N làm N ngất xỉu, S chạy vào phòng bảo vệ trốn.
Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 54/19/TgT ngày 11 tháng 4 năm 2019 của Viện pháp y quốc gia tại Thành phồ Hồ Chí Minh kết luận thương tích của Trần Trường N như sau:
- Tỷ lệ tổn thương cơ thể từng thương tích gây nên tại thời điểm giám định của nạn nhân Trần Trường N là: Sẹo vùng trán – đỉnh – thái dương trái: 08%; sẹo vùng thái dương trái: 01%; khuyết sọ bán cầu trái đáy phập phồng kích thước 52 x 81 mm: 31%; tụ máu dưới màng cứng trán trái đã điều trị hiện còn ổ tổn thương não vùng cạnh khuyết xương: 31%; gãy thành ngoài hốc mắt trái không ảnh hưởng thị lực: 05%
- Tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên tại thời điểm giám định của nạn nhân Trần Trường N là : 59% theo nguyên tắc cộng tại thông tư. Các thương tích của Trần Trường N là do vật tày có cạnh tác động trực tiếp vào vùng đầu mặt bên trái gây nên.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 51/2019/HS-ST ngày 26/12/2019 của Tòa án nhân dân thị xã G, tỉnh Bạc Liêu quyết định: Tuyên bố bị cáo Giang Văn S phạm tội “Cố ý gây thương tích”. Áp dụng điểm c khoản 3 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Giang Văn S 02 (hai) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành hình phạt. Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn quyết định về án phí và quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 10/01/2020, bị cáo Giang Văn S kháng cáo xin hưởng án treo.
Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bạc Liêu phát biểu quan điểm: Sau khi phân tích hành vi phạm tội của bị cáo, nội dung kháng cáo. Xét thấy, khi quyết định hình phạt cấp sơ thẩm đã áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà bị cáo được hưởng theo quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Tuy nhiên, trong quá trình điều tra cho thấy hành vi phạm tội của bị cáo cũng xuất phát từ một phần lỗi của bị hại nhưng không được cấp sơ thẩm xem xét là thiếu sót nhưng mức hình phạt 02 năm tù mà cấp sơ thẩm đã xử phạt bị cáo là phù hợp với tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, nên đề nghị áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự. Không chấp nhận kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo. Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số: 51/2019/HS-ST ngày 26/12/2019 của Tòa án nhân dân thị xã Giá Rai, tỉnh Bạc Liêu.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Tại phiên tòa phúc thẩm, qua xem xét đơn xin hoãn phiên tòa với nội dung bị cáo bị bệnh (có kèm theo toa thuốc). Tuy nhiên, việc vắng mặt của bị cáo Giang Văn S không gây trở ngại cho việc xét xử nên Hội đồng xét xử căn cứ điểm c khoản 1 Điều 351 Bộ luật Tố tụng hình sự xét xử vắng mặt bị cáo.
[2] Lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm, phù hợp lời khai của bị cáo, bị hại trong quá trình điều tra, phù hợp với kết luận giám định và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, vì vậy Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định: Vào khoảng 19 giờ, ngày 10/12/2018 tại Trung tâm y tế thị xã G, tỉnh Bạc Liêu, giữa bị cáo Giang Văn S và bị hại Trần Trường N có mâu thuẫn về tiền thuê xe nên xảy ra cự cải và được bảo vệ bệnh viện can ngăn. Đến khoảng 21 giờ cùng ngày bị cáo Sơn và bị hại N tiếp tục cự cải, lúc này Trần Trường T là em của bị hại N biết được và chạy xe mô tô đến, đâm trúng người của bị cáo S làm cả hai té ngã, thấy anh T rút dây nịt định đánh thì bị cáo S chạy vào bụi cây gần đó nhặt cục gạch ống có kết dính xi măng (bê tông) liền quay lại và thấy Trần Trường N có cầm khúc cây, bị cáo S ném cục gạch thẳng vào vùng đầu mặt bên trái của Trần Trường N gây thương tích tỷ lệ tổn thương 59% là có xảy ra trên thực tế. Do đó, cấp sơ thẩm xét xử bị cáo về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm c khoản 3 Điều 134 Bộ luật Hình sự là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng quy định pháp luật.
[3] Xét kháng cáo yêu cầu hưởng án treo của bị cáo Giang Văn S, Hội đồng xét xử thấy rằng: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp gây tổn hại đến sức khỏe của bị hại, gây mất an ninh trật tự tại địa phương, hành vi của bị cáo không những xem thường pháp luật mà còn xem thường tính mạng, sức khỏe của người khác được pháp luật bảo vệ. Bị cáo hoàn toàn nhận thức được cục gạch có kết dính xi măng là vật rắn chắc khi ném trúng vào bất kỳ vùng nào của cơ thể con người sẽ gây nguy hiểm đến tính mạng, sức khỏe, nhưng chỉ vì nóng giận nhất thời mà bị cáo bất chấp hậu quả, đã gây ra thương tích cho anh Trần Trường N với tỷ lệ tổn hại sức khỏe do thương tích gây ra là 59%. Vì vậy, cần xử lý nghiêm để răn đe và phòng ngừa chung. Khi quyết định hình phạt, cấp sơ thẩm đã áp dụng cho bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; khắc phục toàn bộ hậu quả cho bị hại và bị cáo có mẹ là bà Trần Thị L được tặng thưởng Huân chương kháng chiến, bị hại có đơn xin bãi nại cho bị cáo theo quy định tại các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Tuy nhiên, cấp sơ thẩm chưa xem xét việc bị cáo thực hiện hành vi phạm tội là do có một phần lỗi của bị hại trước đó, xuất phát từ việc anh Trần Trường T là em của bị hại đã lái xe mô tô đâm trúng bị cáo và bị hại có hành vi cầm cây với ý định tấn công bị cáo nên bị cáo dùng gạch ném trúng bị hại gây thương tích. Song cấp sơ thẩm đã áp dụng khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo 02 năm tù là phù hợp, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, nên Hội đồng xét xử không có cơ sở chấp nhận kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo Giang Văn S mà có căn cứ chấp nhận lời đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là giữ nguyên quyết định của án sơ thẩm.
[4] Các phần Quyết định khác của Bản án hình sự sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
[5] Về án phí: Bị cáo Giang Văn S kháng cáo không được chấp nhận nên phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Không chấp nhận kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo Giang Văn S. Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số: 51/2019/HS-ST ngày 26/12/2019 Tòa án nhân dân thị xã Giá Rai, tỉnh Bạc Liêu.
1. Tuyên bố bị cáo Giang Văn S phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
2. Áp dụng điểm c khoản 3 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Giang Văn S 02 (hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.
3. Về án phí: Áp dụng các điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị Quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Giang Văn S phải nộp 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự phúc thẩm.
4. Các phần Quyết định khác của Bản án hình sự sơ thẩm số: 51/2019/HS-ST ngày 26/12/2019 của Tòa án nhân dân thị xã Giá Rai, tỉnh Bạc Liêu không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án hình sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Bạc Liêu (02 bản); - Phòng hồ sơ Công an tỉnh Bạc Liêu (01 bản); - TAND Tx. Giá Rai (02 bản); - VKSND Tx. Giá Rai (01 bản); - CQĐT Tx. Giá Rai (01 bản); - Chi cục THADS Tx. Giá Rai (01 bản); - Sở Tư pháp tỉnh Bạc Liêu (1 bản); - Bị cáo (01 bản); - Lưu: HS, THS, THCTP. | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Châu Văn Mỹ |