- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "N kiện H"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị N. Chị Nguyễn Thị N được ly hôn với anh Đinh Viết H.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VỊ THANH TỈNH HẬU GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 35/2020/HNGĐ-ST Ngày: 25-02-2020 V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VỊ THANH, TỈNH HẬU GIANG
- THnh phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Trinh.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Tạ Hồng Thái.
Bà Phạm Kim Ngọc.
- Thư ký phiên tòa: Bà Trương Thị Ngọc Dung - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Vị Thanh, tỉnh Hậu Giang.
Ngày 25 tháng 02 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Vị Thanh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 274/2019/TLST-HNGĐ ngày 03 tháng 12 năm 2019 về tranh chấp ly hôn, nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 03/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 30 tháng 01 năm 2020 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị N.
Địa chỉ: Khu vực 6, phường III, thành phố Vị Thanh, tỉnh Hậu Giang. Có mặt.
- Bị đơn: Anh Đinh Viết H.
Địa chỉ: Khu vực 6, phường III, thành phố Vị Thanh, tỉnh Hậu Giang. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa nguyên đơn chị Nguyễn Thị N trình bày:
Chị Nguyễn Thị N và anh Đinh Viết H kết hôn và có đăng ký kết hôn vào ngày 08/01/1999 tại Ủy ban nhân dân xã Lãng Ngâm, huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc, nhưng sau đó phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân là do tính cách không phù hợp. Chị N và anh H đã không còn sống chung. Nhận thấy mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng đến mức không thể hàn gắn được nữa nên chị N khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị N được ly hôn với anh H.
Về con chung: Có 03 con chung gồm:
1. Đinh Thị Phương, giới tính nữ, sinh ngày 25/7/1999;
2. Đinh Viết Hùng, giới tính nam, sinh ngày 17/4/2007;
3. Đinh Viết Quốc B, giới tính nam, sinh ngày 11/02/2014.
Hiện tại các cháu đang sống chung với chị N. Chị N yêu cầu được nuôi con chung, yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi cháu Đinh Viết Hùng và Đinh Viết Quốc B mỗi tháng 1.000.000 đồng cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi.
Về tài sản chung và về nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại phiên tòa nguyên đơn chị Nguyễn Thị N trình bày: chị N vẫn giữ nguyên yêu cầu được ly hôn và nuôi con chung, chị N rút lại yêu cầu cấp dưỡng nuôi con đối với anh H.
Tại phiên tòa, bị đơn anh Đinh Viết H trình bày: Anh H thống nhất với phần trình bày của chị N về quan hệ hôn nhân và con chung. Về nguyên nhân mâu thuẫn là do tính cách không phù hợp, vợ chồng không có tình cảm với nhau. Anh H đồng ý ly hôn với chị N, yêu cầu được nuôi cháu Đinh Viết Quốc B, không yêu cầu chị N cấp dưỡng, tài sản chung, nợ chung vợ chồng tự thỏa thuận.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng: Chị Nguyễn Thị N khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Đinh Viết H và được nuôi con chung. Đây là tranh chấp ly hôn, nuôi con được quy định tại Khoản 1 Điều 28 và Điểm a Khoản 1 Điều 35, Điểm a Khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Vị Thanh, tỉnh Hậu Giang.
Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị N và anh Đinh Viết H tiến tới hôn nhân và đã đăng ký kết vào ngày 08/01/1999 tại Ủy ban nhân dân xã Lãng Ngâm, huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh nên quan hệ hôn nhân giữa chị N và anh H là hợp pháp. Về yêu cầu xin ly hôn của chị N, Hội đồng xét xử xét thấy: Trong quá trình chung sống, chị N và anh H thường xuyên xảy ra cãi vã nguyên nhân do tính cách vợ chồng không phù hợp làm cho cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc, mâu thuẫn giữa vợ chồng ngày càng trầm trọng nên chị N đã không còn sống chung với anh H. Xét thấy, chị N và anh H đã không còn yêu thương, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, vợ chồng đã không còn sống chung, hôn nhân đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Tại phiên tòa chị N vẫn giữ yêu cầu được ly hôn. Căn cứ vào Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị N về việc được ly hôn với anh H.
Về con chung: Quá trình chung sống chị N và anh H có 03 con chung gồm: Đinh Thị Phương, giới tính nữ, sinh ngày 25/7/1999 (đã tHnh niên), Đinh Viết Hùng, giới tính nam, sinh ngày 17/4/2007 và Đinh Viết Quốc B, giới tính nam, sinh ngày 11/02/2014. Cháu Hùng có nguyện vọng sống với chị N. Đối với cháu B, từ lúc chị N và anh H không còn sống chung thì cháu B luôn sống chung với chị N. Ngoài ra, chị N hiện tại có việc làm và thu nhập ổn định, đủ khả năng nuôi dưỡng con chung. Sau khi cân nhắc việc đảm B tốt nhất quyền lợi của các cháu sau khi cha mẹ ly hôn về các mặt vật chất, tình cảm và điều kiện chăm sóc, giáo dục, cũng như tránh làm xáo trộn cuộc sống của các cháu, Hội đồng xét xử quyết định giao cháu Đinh Viết Hùng và Đinh Viết Quốc B cho chị N được quyền trực tiếp nuôi dưỡng. Anh H chưa phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con do chị N chưa yêu cầu.
Tại phiên tòa chị N rút lại yêu cầu cấp dưỡng nuôi con đây là sự tự nguyện của chị N và không trái pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận và đình chỉ yêu cầu cấp dưỡng của chị N.
Về tài sản chung và nợ chung: Nguyên đơn, bị đơn không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.
Nghĩa vụ chịu án phí dân sự sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị N phải chịu là 300.000 đồng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Khoản 1 Điều 28 và Điểm a Khoản 1 Điều 35, Điểm a Khoản 1 Điều 39, Điều 147 và 228 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ vào các Điều 19, 56, 81, 82, 83 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ vào Khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị N. Chị Nguyễn Thị N được ly hôn với anh Đinh Viết H.
2. Chị Nguyễn Thị N được quyền trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung gồm Đinh Viết Hùng, giới tính nam, sinh ngày 17/4/2007 và Đinh Viết Quốc B, giới tính nam, sinh ngày 11/02/2014. Anh Đinh Viết H chưa phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con do chị Nguyễn Thị N chưa yêu cầu.
Anh Đinh Viết H có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung không ai được cản trở.
3. Đình chỉ yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung của chị Nguyễn Thị N đối với anh Đinh Viết H.
4. Về án phí dân sự sơ thẩm: Buộc chị Nguyễn Thị N phải chịu là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng, chị N được khấu trừ số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền số 0002852 ngày 03/12/2019 của Cơ quan Thi Hnh án dân sự tHnh phố Vị Thanh. Chị N không phải nộp thêm.
5. Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi Hnh theo quy định tại Điều 2 Luật thi Hnh án dân sự thì người được thi Hnh án dân sự, người phải thi Hnh án dân sự có quyền thỏa thuận thi Hnh án, quyền yêu cầu thi Hnh án, tự nguyện thi Hnh án hoặc bị cưỡng chế thi Hnh án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi Hnh án dân sự; thời hiệu thi Hnh án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi Hnh án dân sự.
| Nơi nhận: - VKSND TP Vị Thanh; - Chi cục THADS TP Vị Thanh; - Các đương sự; - UBND xã Lãng Ngâm, huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh. - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Huỳnh Thị Trinh |