- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Anh Nguyễn Thanh Đ khởi kiện yêu cầu ly hôn với chị Huỳnh Thị Mỹ Nh"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa anh Nguyễn Thanh Đ và chị Huỳnh Thị Mỹ Nh.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH TỈNH KIÊN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 35/2020/HNGĐ-ST Ngày: 28-7-2020 V/v: Ly hôn giữa anh Đ và chị Nh |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH KIÊN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Tạ Thị Xuân
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Vũ Văn Hợp
2. Ông Nguyễn Văn Kiệt
Thư ký phiên toà: Bà Lữ Cẩm Nhung – Thư ký Toà án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang tham gia phiên toà: Ông Lâm Sển - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 7 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 163/2020/TLST-HNGĐ ngày 04 tháng 3 năm 2020, về tranh chấp ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 30/2020/QĐXX-ST ngày 21 tháng 5 năm 2020 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Anh Nguyễn Thanh Đ, sinh năm 1982 (Có mặt)
Địa chỉ: Ấp 7, xã K, huyện M, tỉnh Cà Mau.
2. Bị đơn: Chị Huỳnh Thị Mỹ Nh, sinh năm 1983
Địa chỉ: Ấp P, xã M, huyện C, tỉnh Kiên Giang.
(Vắng mặt không lý do)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn anh Nguyễn Thanh Đ trình bày:
- Về hôn nhân: Vào năm 2002, anh Nguyễn Thanh Đ và chị Huỳnh Thị Mỹ Nh quen biết và tiến tới hôn nhân, có tổ chức đám cưới và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã K, huyện M, tỉnh Cà Mau và được cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 30-02-2002.
Trong thời gian chung sống vợ chồng thì anh Đ và chị Nh xảy ra mâu thuẫn do bất đồng quan điểm trong cuộc sống hàng ngày và do chị Nh không đồng ý sống bên gia đình anh Đ nên đã bỏ về nhà cha mẹ sống từ đầu năm 2003 cho đến nay, để lại con nhỏ mới hơn tháng tuổi cho anh Đ nuôi dưỡng. Trong thời gian sống ly thân anh Đ đã cố gắng hàn gắn tình cảm vợ chồng nhiều lần nhưng không có kết quả. Nhận thấy tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn được, mục đích hôn nhân không2 đạt được nên anh Đ yêu cầu được ly hôn với chị Nh.
- Về con chung: Anh Đ và chị Nh có 01 con chung tên Nguyễn Thị Trúc V, sinh ngày 10-12-2002, hiện nay anh Đ đang nuôi dưỡng cháu V. Anh Đ yêu cầu được tiếp tục nuôi cháu V, anh không yêu cầu chị Nh cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung: Anh Đ xác nhận không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về nợ chung: Anh Đ xác nhận không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn chị Huỳnh Thị Mỹ Nh: Không có ý kiến bằng văn bản theo Thông báo thụ lý vụ án của Tòa án và cũng không có mặt theo giấy triệu tập làm việc, Thông báo phiên họp và Thông báo hoãn phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Quyết định hoãn phiên tòa của Tòa án.
Tại phiên tòa chị Nh vắng mặt.
* Kiểm sát viên phát biểu ý kiến:
- Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký: Thực hiện đúng quy định tại Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Thời hạn chuẩn bị xét xử và quyết định đưa vụ án ra xét xử: Đúng quy định tại Điều 203 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
- Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của nguyên đơn anh Nguyễn Thanh Đ đối với bị đơn chị Huỳnh Thị Mỹ Nh.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, sau khi nghị án, Toà án nhận định:
Về thủ tục tố tụng: Chị Huỳnh Thị Mỹ Nh chưa có ý kiến xác nhận theo đơn khởi kiện xin ly hôn của anh Nguyễn Thanh Đ, Toà án đã làm đầy đủ thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự nhưng chị Nh vẫn vắng mặt không lý do. Tại phiên tòa nguyên đơn đồng ý xử vắng mặt bị đơn. o vậy, căn cứ Điều 227 và Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Toà án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.
Về quan hệ hôn nhân: Anh Nguyễn Thanh Đ và chị Huỳnh Thị Mỹ Nh chung sống với nhau vào năm 2002 trên cơ sở hôn nhân hoàn toàn tự nguyện và được Ủy ban nhân dân xã K, huyện M, tỉnh Cà Mau cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 30-02-2002, đây là hôn nhân hợp pháp.
Xét yêu cầu xin ly hôn của anh Nguyễn Thanh Đ: Vợ chồng anh Nguyễn Thanh Đ và chị Huỳnh Thị Mỹ Nh không còn thương yêu, quý trọng, quan tâm, chăm sóc và giúp đỡ nhau nữa, thể hiện qua lời trình bày của anh Đ tại Toà án và qua xác minh tại địa phương: Anh Đ và chị Nh có nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm trong cuộc sống hàng ngày và do chị Nh không đồng ý sống bên gia3 đình anh Đ nên đã bỏ về nhà cha mẹ sống từ đầu năm 2003 cho đến nay. Trong thời gian sống ly thân anh Đ đã gặp chị Nh nhiều lần để hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng không có kết quả. Toà án xét thấy tình trạng hôn nhân giữa anh Đ và chị Nh đã đến mức trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, yêu cầu của anh Đ xin ly hôn với chị Nh là có căn cứ để chấp nhận.
Về nuôi con chung: Anh Đ và chị Nh có 01 con chung tên Nguyễn Thị Trúc V, sinh ngày 10-12-2002, hiện nay anh Đ đang nuôi dưỡng cháu V. Anh Đ yêu cầu được tiếp tục nuôi cháu V, anh không yêu cầu chị Nh cấp dưỡng nuôi con vì anh có thu nhập ổn định, đủ điều kiện kinh tế nuôi con được.
Xét thấy, từ thời gian anh Đ và chị Nh sống ly thân cho đến nay, cháu V vẫn do một mình anh Đ chăm sóc, nuôi dưỡng tốt. Mặt khác, cháu V có nguyện vọng được ở với cha. o đó, Hội đồng xét xử thống nhất chấp nhận yêu cầu của anh Đ được tiếp tục nuôi cháu V. Anh Đ không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về tài sản chung và nợ chung: Trong quá trình giải quyết vụ án, Toà án đã triệu tập chị Nh đúng theo quy định pháp luật nhưng chị Nh vẫn vắng mặt không lý do. Vì vậy, Toà án không tiến hành hoà giải, đối chất về tài sản chung và nợ chung giữa anh Đ và chị Nh được. Mặt khác, tại Toà án cũng như tại phiên toà anh Đ xác nhận trong thời gian chung sống cùng chị Nh, anh chị không tạo lập được tài sản gì và cũng không có nợ ai. Cho nên về phần tài sản chung và nợ chung Hội đồng xét xử không xem xét. Nếu sau này các đương sự có yêu cầu thì sẽ được giải quyết bằng vụ án khác theo quy định pháp luật.
Thống nhất ý kiến của Kiểm sát viên về quan điểm giải quyết vụ án như đã phân tích và nhận định trên.
Về án phí: Anh Nguyễn Thanh Đ là nguyên đơn trong vụ án, do đó anh phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm với số tiền là 300.000 đồng theo quy định tại Nghị quyết về án phí, lệ phí Toà án và tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các điều 28, 147, 227, 228 và 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Áp dụng khoản 1 Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/ BTVQH14 ngày 30-12-2016 của ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa anh Nguyễn Thanh Đ và chị Huỳnh Thị Mỹ Nh.
2. Về nuôi con chung: Giao cháu Nguyễn Thị Trúc V, sinh ngày 10-12-4 2002 cho anh Nguyễn Thanh Đ trực tiếp nuôi dưỡng, anh Đ không yêu cầu chị Nh cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Chị Huỳnh Thị Mỹ Nh có quyền, ngh a vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
3. Về tài sản chung và nợ chung: o đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
4. Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Anh Nguyễn Thanh Đ phải nộp 300.000 đồng nhưng anh Đ được khấu trừ tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng theo biên lai thu số 0002248 ngày 27-02-2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang, anh Đ không phải nộp thêm.
“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014”.
5. Quyền kháng cáo: Anh Nguyễn Thanh Đ có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Chị Huỳnh Thị Mỹ Nh vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - VKSN huyện Châu Thành; - Chi cục THA dân sự huyện Châu Thành; - Lưu hồ sơ. | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Tạ Thị Xuân |