vanban.org

Bản án 35/2020/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn do nghiện ma tuý, rượu chè, cờ bạc

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn do nghiện ma tuý, rượu chè, cờ bạc — án hôn nhân và gia đình — "Chị T yêu cầu ly hôn anh H"
  • Căn cứ chính? Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ QUẢNG NGÃI
TỈNH QUẢNG NGÃI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 35/2020/HNGĐ-ST
Ngày 15-9-2020
V/v: “Ly hôn”

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUẢNG NGÃI, TỈNH QUẢNG NGÃI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Hồng Hoa

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Hoàng Minh Tân

2. Bà Đoàn Thị Hoa Kiều

- Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Duy Vinh, Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi.

Ngày 15 tháng 9 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 214/2020/TLST-HNGĐ ngày 02 tháng 6 năm 2020 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 141/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 01 tháng 9 năm 2020 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Phạm Thị Minh T, sinh năm 1989

Địa chỉ: Số 408/58 đường T, quận H, thành phố Đà Nẵng.

2. Bị đơn: Anh Võ Quốc H, sinh năm 1978

Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Số 145, đường N, phường N, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi.

Hiện đang chấp hành án tại Trại giam Kim Sơn.

Chị T và anh H đều có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

1. Tại đơn khởi kiện đề ngày 21-3-2020, đơn khởi kiện bổ sung đề ngày 28-5-2020 và các tài liệu có tại hồ sơ nguyên đơn là chị Phạm Thị Minh T trình bày:

Chị và anh Võ Quốc H sau thời gian tìm hiểu thì tự nguyện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường N, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi vào ngày 06-5-2014. Trong quá trình chung sống xảy ra nhiều mâu thuẫn nguyên nhân là do anh H quan hệ với nhiều bạn bè ngoài xã hội và đi với bạn bè nhiều ngày đêm không về nhà, khi về nhà chị hỏi thì không nói lý do nên vợ chồng thường xuyên cãi vã. Chị đã nhiều lần khuyên nhủ nhưng anh H không nghe mà vẫn chứng nào tật nấy nên mâu thuẫn ngày càng trầm trọng. Đến năm 2016 anh H bị bắt vì tội mua bán trái phép chất ma túy và Tòa án nhân dân thành phố Q đã xử phạt 12 năm tù; hiện nay đang chấp hành án tại Trại giam Kim Sơn. Những lần chị đến thăm anh H đều đề cập đến việc muốn ly hôn với chị và đề nghị chị làm đơn ly hôn. Nay chị xét thấy tình cảm giữa chị với anh H không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị yêu cầu được ly hôn anh Võ Quốc H.

Về con chung: Không có

Về tài sản chung và nợ chung: Không có.

* Tại bản tự khai ngày 03-7-2020, bị đơn là anh Võ Quốc H trình bày: Anh và chị Phạm Thị Minh T kết hôn vào năm 2014 đến nay không có con chung. Về tài sản chung, nợ chung không có. Anh đồng ý ly hôn với chị Phạm Thị Minh T và thống nhất toàn bộ nội dung yêu cầu của chị T, chỉ mong Tòa án giải quyết ly hôn theo yêu cầu của chị T. Anh không có ý kiến gì khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về tố tụng: Nguyên đơn là chị Phạm Thị Minh T và bị đơn là anh Võ Quốc H đều có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Căn cứ khoản 1 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt chị Phạm Thị Minh T và anh Võ Quốc H.

Về nội dung:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Phạm Thị Minh T và anh Võ Quốc H tự nguyện đăng ký kết hôn và được UBND phường N, thành phố Q cấp giấy chứng nhận kết hôn số 34 ngày 06-5-2014 nên hôn nhân của chị T và anh H là hợp pháp.

Theo chị T thì sau khi kết hôn, trong quá trình vợ chồng chung sống xảy ra nhiều mâu thuẫn nguyên nhân là do anh H quan hệ với nhiều bạn bè ngoài xã hội và đi với bạn bè nhiều ngày đêm không về nhà, khi về nhà chị hỏi thì không nói lý do nên vợ chồng thường xuyên cãi vã. Chị đã nhiều lần khuyên nhủ nhưng anh H không nghe mà vẫn chứng nào tật nấy nên mâu thuẫn ngày càng trầm trọng. Đến năm 2016 anh H bị bắt vì tội mua bán trái phép chất ma túy và Tòa án nhân dân thành phố Q đã xử phạt 12 năm tù; hiện nay anh H đang chấp hành án tại Trại giam Kim Sơn. Nay chị xét thấy tình cảm giữa chị với anh H không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị yêu cầu được ly hôn anh Võ Quốc H. Về phía anh H đồng ý ly hôn theo yêu cầu của chị T. Do đó, chị Phạm Thị Minh T và anh Võ Quốc H được ly hôn.

Về con chung: Chị Phạm Thị Minh T và anh Võ Quốc H đều trình bày không có nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về tài sản chung, nợ chung: Chị Phạm Thị Minh T và anh Võ Quốc H đều trình bày không có nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về án phí: Chị Phạm Thị Minh T phải chịu 300.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm đối với tranh chấp về hôn nhân và gia đình, nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH;

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 3 Điều 144, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228, 235, 266, 271, 273 và Điều 278 của Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Điểm a, khoản 5, Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Phạm Thị Minh T và anh Võ Quốc H.

2. Về con chung: Chị Phạm Thị Minh T và anh Võ Quốc H đều trình bày không có nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

3. Về tài sản chung, nợ chung: Chị Phạm Thị Minh T và anh Võ Quốc H đều trình bày không có nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

4. Về án phí: Chị Phạm Thị Minh T phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm đối với tranh chấp về hôn nhân và gia đình, nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí chị T đã nộp là 300.000 đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: AA/2018/0004457 ngày 25-5-2020 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi.

5. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ