vanban.org

Bản án 35/2020/DS-ST — Tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Bửu Tr như sau:

Buộc ông Trần Văn Th, bà Trần Thị Ngh phải có nghĩa vụ liên đới trả cho chị Nguyễn Bửu Tr số tiền là 15.000.000 đ (Mười lăm triệu đồng). Trong trường hợp bên có nghĩa vụ chậm trả khoản tiền nêu trên thì hàng tháng còn phải chịu khoản tiền lãi theo mức lãi suất tương ứng với thời gian chậm trả được q… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường — án dân sự — "Nguyễn Bửu Tr - Trần Quốc Th"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Bửu Tr như sau:
  • Căn cứ chính? Nghị định số 144/2006/NĐ-CP Về họ, hụi, biêu, phường; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN C
TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 35/2020/DS-ST
Ngày 29 - 5 - 2020
“Về việc tranh chấp nợ hụi”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN C, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Huỳnh Minh Tính

Các vị Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Mầm

Ông Nguyễn Trung Đông

- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Thanh Vũ là Thư ký Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Cà Mau.

Trong ngày 29 tháng 5 năm 2020, tại Tòa án nhân dân huyện C xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 57/2020/TLST-DS ngày 25 tháng 02 năm 2020 về “Tranh chấp nợ hụi”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 76/2020/QĐXXST-DS ngày 22 tháng 4 năm 2020 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Bửu Tr, sinh năm 1993 (Có mặt)

Địa chỉ: ấp Phú Thạnh, xã Phú Hưng, huyện C, tỉnh Cà Mau.

- Bị đơn: 1. Ông Trần Quốc Th, sinh năm 1963 (Vắng mặt)

2. Bà Trần Thị Ngh, sinh năm 1964 (Có mặt)

Cùng địa chỉ: ấp Phú Thạnh, xã Phú Hưng, huyện C, tỉnh Cà Mau.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện ngaøy 21/02/2020 và các lời trình bày tại Tòa án chị Nguyễn Bửu Tr trình bày như sau:

Tôi có chơi hụi của ông Th và bà Ngh cụ thể:

Dây hụi 2.000.000 đồng mở ngày 27/3/2018, hụi gồm 24 chưng, đóng được 7 lần, số tiền 14.000.000 đồng.

Dây hụi 1.000.000 đồng mở ngày 27/3/2018, hụi gồm 24 chưng, đống được 7 lần số tiền 7.000.000 đồng.

Tổng cộng các dây hụi ông Th, bà Ngh thiếu chị Tr là 21.000.000 đồng. Sau đó ông Th, bà Ngh có trả số tiền 6.000.000 đồng. Nay yêu cầu ông Th, bà Ngh phải trả cho tôi số tiền 15.000.000 đồng.

- Theo bà Trần Thị Ngh (Bị đơn) trình bày: Bà Ngh thừa nhận có mở 02 dây hụi như chị Tr trình bày là đúng, bà Ngh thừa nhận còn thiếu chị Tr số tiền 15.000.000 đồng, nay bà Ngh đồng ý trả số tiền này cho chị Tr.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Ơ

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Ông Trần Văn Th đã được Tòa án niêm yết giấy triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng ông Trần Văn Th không đến để trình bày ý kiến của mình cũng như không tham gia phiên họp, phiên hòa giải và xét xử xem như đương sự đã tự từ bỏ thực hiện các quyền, Ngha vụ của mình. Do đó, căn cứ khoản 2 Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đối với ông Trần Văn Th là phù hợp.

Quan hệ pháp luật tranh chấp giữa nguyên đơn chị Nguyễn Bửu Tr với bị đơn là ông Trần Văn Th, bà Trần Thị Ngh là “Tranh chấp nợ hụi” được quy định tại Điều 471 Bộ luật dân sự.

Xét nội dung vụ án: Tại phiên tòa, chị Tr vẫn giữ yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông Trần Quốc Th, bà Trần Thị Ngh trả cho chị số tiền hụi 15.000.000 đồng. Căn cứ khoản 2 Điều 91 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 đây là tình tiết không phải chứng minh. Do ông Trần Quốc Th, bà Trần Thị Ngh vi phạm Ngha vụ trả nợ nên chị Tr khởi kiện.

Để chứng minh cho yêu cầu khởi kiện của mình, chị Tr đã cung cấp giấy biên nhận nợ mà bà Ngh đã ký nhận. Sau khi thụ lý, Tòa án đã thực hiện việc tống đạt Thôg báo thụ lý, Thôg báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải cùng với chứng cứ do nguyên đơn cung cấp nhưng ông Th, bà Ngh không có ý kiến liên quan đến yêu cầu khởi kiện, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp và cũng không có yêu cầu phản tố. Hội đồng xét xử khẳng định chứng cứ mà nguyên đơn cung cấp là hợp lệ. Vì vậy, yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ nên chấp nhận. Buộc ông Th, bà Ngh có nghĩa vụ trả cho nguyên đơn số tiền nợ hụi là 15.000.000 đồng.

Bà Ngh thừa nhận trong quá trình chơi hụi, dùng tiền mục đích là phục vụ cho việc sản xuất kinh doanh trong gia đình nên buộc ông Trần Văn Th là chồng của bà Ngh phải có trách nhiệm liên đới trả cho chị Tr số tiền 15.000.000 đồng là đúng theo quy định của pháp luật.

Án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch: Ông Trần Văn Th, bà Trần Thị Ngh phải chịu số tiền là 750.000 đồng.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: Các Điều 288, 471 của Bộ luật dân sự năm 2015; Các Điều 147, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Nghị định số 144/2006/NĐ-CP ngày 27/11/2006; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 27/12/2016.

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Bửu Tr như sau:

Buộc ông Trần Văn Th, bà Trần Thị Ngh phải có nghĩa vụ liên đới trả cho chị Nguyễn Bửu Tr số tiền là 15.000.000 đ (Mười lăm triệu đồng).

Trong trường hợp bên có nghĩa vụ chậm trả khoản tiền nêu trên thì hàng tháng còn phải chịu khoản tiền lãi theo mức lãi suất tương ứng với thời gian chậm trả được quy định tại Điều 468 Bộ luật dân sự.

Án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch: Bà Trần Thị Ngh, ông Trần Văn Th phải chịu số tiền là 750.000 đồng, nộp tại Chi cục Thi hành án dân sừ huyện Cái Nước.

Nguyên đơn không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, hoàn trả lại cho Nguyễn Bửu Tr số tiền 375.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0005178 ngày 25/02/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện C.

Án xử sơ thẩm công khai, chị Tr, bà Ngh có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với ông Th được quyền làm đơn kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết công khai bản án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ