- Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Lò Văn T phạm tội: " Tàng trữ trái phép chất ma túy".
- Căn cứ chính? Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƢỜNG ẢNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Tỉnh Điện Biên Bản án số: 35 /2019/HSST Ngày 10 tháng 9 năm 2019 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƢỜNG ẢNG - TỈNH ĐIỆN BIÊN
-Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Ích Rồng.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Tòng Văn Tọt
2. Ông Bùi Ngọc Quang
- Thư ký Phiên tòa: Bà Hoàng Thị Hồng Ngân, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mường Ảng, tỉnh Điện Biên.
-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Ảng, tỉnh Điện Biên tham gia phiên tòa: Bà Đoàn Thị Minh Thu, Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 9 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mường Ảng, tỉnh Điện Biên xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 35/2019/HSST, ngày 06 tháng 8 năm 2019, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 35/2019/QĐXXST – HS ngày 29 tháng 8 năm 2019 đối với bị cáo:
Lò Văn T; Tên gọi khác: Không, sinh năm: 1987, Tại: huyện M, tỉnh Điện Biên; ĐKHKTT: Bản C, xã X, huyện M, tỉnh Điện Biên; Cư trú tại: Bản C, xã X, huyện M, tỉnh Điện Biên; Nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ văn hóa: 9/12; Dân tộc: Thái; con ông: Lò Văn P, sinh năm 1954 và bà Lường Thị P1, sinh năm 1942; Bị cáo có vợ: Lò Thị T1, sinh năm 1992 và 01 người con sinh năm 2016; Tiền sự: Không; Tiền án:Không; tạm giam giữ từ ngày 08/5/2019 cho đến ngày xét xử; Có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 18 giờ 40 phút, ngày 7/5/2019, Lò Văn T đi bộ từ nhà sang bản K, xã X, huyện M, tỉnh Điện Biên để tìm mua Herone về sử dụng. Khi đến bản K, T gặp 01 người đàn ông dân tộc Mông mà T không biết tên và địa chỉ ở đâu; T đã mua của người đàn ông dân tộc Mông đó 01 gói Heroine với giá 600.000đ; sau đó, T mang gói nhỏ Heroine về nhà rồi lấy một ít sử dụng bằng hình thức hít, số còn lại cất vào túi quần. Khoảng 9 giờ 30 phút, ngày 8/5/2019, Tổ công tác Công an đồn Búng Lao vào nhà T kiểm tra hành chính, yêu cầu T có ma túy thì giao nộp; T đã tự nguyện lấy 01 gói Heroine ra nộp cho Công an; tổ công tác, Công an đồn Búng Lao đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và thu giữ 01 gói nhỏ bên trong có chất bột màu trắng nghi là Heroine.
Tại biên bản mở niêm phong, xác định khối lượng ngày 8/5/2019 thì vật chứng thu giữ của Lò Văn T, gồm 01 gói nhỏ có khối lượng: 1,53g, đồng thời trích 0,17g làm mẫu gửi giám định; bản kết luận giám định số 502/GĐ – PC09, ngày 20/5/2019 của cơ quan giám định kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên, kết luận: 1,53 gam là Heroine.
Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận tàng trữ trái phép 1,53g Heroine để sử dụng cho bản thân như nội dung Cáo trạng đã nêu.
Cáo trạng số 36 /CT – VKSMA, ngày 05 / 8/2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Ảng đã truy tố bị cáo Lò Văn T về tội " Tàng trữ trái phép chất ma túy " theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Ảng vẫn giữ nguyên quan điểm đã truy tố bị cáo về tội danh, điều luật đã áp dụng như nội dung bản Cáo trạng. Sau khi đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Ảng đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Lò Văn T phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy, áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; Xử phạt bị cáo Lò Văn T từ 18 tháng tù đến 20 tháng tù; Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu để tiêu hủy: 1,36g Heroine. Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Lời nói sau cùng, Lò Văn T nhận phạm tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy” và mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa. Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa. Trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Tại phiên tòa, bị cáo Lò Văn T thừa nhận tàng trữ trái phép 1,53 gam Heroine với mục đích để sử dụng. Lời nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với các lời khai của bị cáo và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, phù hợp với biên bản mở niêm phong xác định khối lượng ngày 08/5/2019 và kết luận giám định số 502/GĐ – PC09, ngày 20/5/2019 của cơ quan giám định kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên đã kết luận: 1,53 gam là Heroine, cũng như biên bản bắt người phạm tội quả tang lập hồi 09 giờ 40 phút ngày 08/5/2019 đối với Lò Văn T.
Do đó, hành vi của Lò Văn T tàng trữ trái phép 1,53g Heroine với mục đích để sử dụng đã xâm phạm trực tiếp đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy. Vì vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận Lò Văn T đã phạm tội“ Tàng trữ trái phép chất ma túy” được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự nên phải chịu trách nhiệm về hành vi của mình đã gây ra cho xã hội.
Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân và hình phạt đối với bị cáo: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo Điều 52 Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa cũng như quá trình điều tra, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên Hội đồng xét xử xem xét là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; bị cáo là người đã mắc nghiện ma túy. Vì vậy, Hội đồng xét xử xét thấy cần phải áp dụng một hình phạt nghiêm minh đối với bị cáo và cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội để bị cáo sửa chữa tội lỗi của mình, nhằm sau này trở thành công dân có ích cho xã hội.
Ngoài hình phạt chính, qua xác minh thì bị cáo thực sự khó khăn không có điều kiện thi hành hình phạt bổ sung bằng tiền nên không áp dụng hình phạt bổ sung theo khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự.
[ 3] Về vật chứng: Hội đồng xét xử thấy rằng: 1,53gam Heroine đã trích 0,17 g còn lại 1,36g Heroine sau giám định là vật thuộc loại Nhà nước cấm lưu hành nên cần tịch thu để tiêu hủy.
[ 4] Về tố tụng: Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử thấy rằng: Các hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra, Điều tra viên; Viện kiểm sát, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự nên trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay bị cáo không có ý kiến khiếu nại về các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[ 5] Về án phí: Bị cáo Lò Văn T thuộc dân tộc thiểu số sống ở xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn và có đơn xin miễn án phí hình sự sơ thẩm nên Hội đồng xét xử xem xét miễn toàn bộ án phí cho bị cáo.
[ 6] Đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Ảng là có cơ sở pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận lời đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố: Bị cáo Lò Văn T phạm tội: " Tàng trữ trái phép chất ma túy".
Áp dụng: điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015. Xử phạt: Lò Văn T 18(Mười tám) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 08 tháng 5 năm 2019.
2. Vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu để tiêu hủy: 1,36g Heroine,
3. Án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội: Miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
4. Quyền kháng cáo đối với bản án: Bị cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Điện Biên. - VKSND tỉnh Điện Biên. - VKSNDhuyện Mường Ảng. - Cơ quan điều tra huyện Mường Ảng. - THAHS huyện Mường Ảng. - THADS huyện Mường Ảng - Sở Tư Pháp tỉnh Điện Biên. - Bị cáo. - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Phan Ích Rồng |