vanban.org

Bản án 35/2019/HS-PT — Hình sự

TAND TP. Cần Thơ Tuyên án 25/03/2019 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 25/03/2019 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo.

Tuyên bố bị cáo Hồ Hữu T phạm tội Hủy hoại tài sản. Xử phạt Hồ Hữu T 08 (tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt đầu chấp hành án. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Hồ Hữu T - phạm tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản (điều 178 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 178 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ CẦN THƠ
–––––––––––––––

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 35/2019/HS-PT
Ngày: 25 – 3 – 2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm"phán"-"Chủ"tọa"phiên"tòa: Ông Nguyễn Văn Trinh

Các"Thẩm"phán:""Bà Nguyễn Thị Thụy Vũ

Ông Nguyễn Hoàng Quí

- Thư ký phiên tòa:"Bà Lê Thị Cẩm Hằng - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ tham gia phiên tòa: Ông Bùi Trung Nam - Kiểm sát viên.

Trong ngày 25-3-2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ, xét xử phúc thẩm công khai, vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 13/2019/TLPT-HS ngày 8-01-2019, đối với bị cáo Hồ Hữu T, do có kháng cáo của bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số 76/2018/HSST ngày 12 tháng 10 năm 2018 của Tòa án nhân dân quận Thốt Nốt.

-"Bị"cáo"có"kháng"cáo":"

Hồ Hữu T sinh năm 1955, tại quận Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ. Nơi cư trú: Khu vực B, phường C, quận N, thành phố Cần Thơ. Nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ học vấn: 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Hồ Văn A (chết) và bà: Nguyễn Thị H (chết); có vợ: Hồ Thị Kim S và 2 con: Lớn sinh năm 1982 - nhỏ sinh năm 1988; tiền án: Không;

Tiền sự: - Ngày 17-8-2016, bị Công an phường C, quận N phạt 200.000 đồng về hành vi gây mất trật tự công.

cộng. Chưa nộp phạt.

- Ngày 30-8-2016, bị Công an quận N phạt 3.500.000 đồng về hành vi hủy hoại tài sản của người khác. Chưa nộp phạt.

- Ngày 03-3-2017, bị Ủy ban nhân dân phường C, quận N phạt 2.000.000 đồng về hành vi treo dựng, đặt, gắn băng rol, biển bảng không đúng vị trí.

Bị cáo tại ngoại. Vắng mặt.

Những người bị hại trong vụ án không có kháng cáo.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồ Hữu T tranh chấp quyền sử dụng đất với ông Hồ Văn V, ở cùng khu vực B, phường C, quận N, thành phố Cần Thơ, nhưng không có chứng cứ. Ủy ban nhân dân quận N đã thu hồi quyền sử dụng một phần diện tích đất của ông V, để xây dựng trường Tiểu học Thới Thuận 3 và trường Mẫu giáo Thới Thuận.

Khoảng 11 giờ ngày 11-7-2018, T cầm cây dao có lưỡi dài khoảng 30cm, đi vào công trình và đến xe cuốc do ông Đặng Hữu M đang điều khiển. Ông M bỏ xe cuốc và chạy trốn. T mở và làm hỏng nắp bình chứa nhiên liệu của xe cuốc.

Khoảng 19 giờ cùng ngày, T cầm dao đi qua, chặt phá 174 cây chuối, 8 cây đu đủ và 11 cây tre Mạnh Tông, do ông V trồng trên phần đất thuộc quyền sử dụng của ông và trên một phần đất đã có quyết định thu hồi nói trên.

Theo kết quả định giá, thiệt hại gây ra tương đương 2.258.800 đồng.

Tại bản án số 76/2018/HS-ST ngày 12-10-2018, Tòa án nhân dân quận Thốt Nốt đã áp dụng khoản 1 Điều 178; điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự; xử phạt Hồ Hữu T 08 tháng tù.

Buộc bị cáo phải bồi thường cho ông Hồ Văn V 730.800 đồng.

Ngoài ra, còn có quyết định về: xử lý vật chứng và án phí trong vụ án.

Sau khi tuyên án sơ thẩm, ngày 26-10-2018, bị cáo kháng cáo toàn bộ bản án.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo vắng mặt, mặc dù đã được triệu tạp hợp lệ đến lần thứ 2:

- Bi cáo đã nhận dược Quyết định đưa vụ án ra xét xử vào ngày 01-3-2019, nhưng bị cáo không đến phiên tòa.

- Tòa án đã tiến hành giao Quyết định mở phiên tòa vào ngày 25-3-2018, nhưng bị cáo không nhận. Tòa án đã tiến hành niêm yết Quyết định tại trụ sở Ủy ban nhân dân phường C, quận N, thành phố Cần Thơ.

Bị cáo không có đơn rút kháng cáo. Bị cáo không có cung cấp thêm chứng cứ về các tình tiết mới. Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị cáo.

Kiểm sát viên nhận định: bản án sơ thẩm đã tuyên có căn cứ và đúng pháp luật. Mức hình phạt đã tuyên là tương xứng, đã có xem xét các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo, nên đề nghị giữ nguyên.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Quá trình tiến hành tố tụng ở cấp sơ thẩm tuân thủ các quy định của Pháp luật, bảo đảm quyền lợi hợp pháp cho những người tham gia tố tụng. Các chứng cứ tại hồ sơ đủ để kết luận về hành vi phạm tội của bị cáo, cũng như để giải quyết các vấn đề khác có liên quan.

Bị cáo nhìn nhận hành vi phạm tội. Lời nhận tội của bị cáo phù hợp với các chứng cứ khác tại hồ sơ vụ án.

Bị cáo vừa chặt phá cây trồng, vừa phá hỏng nắp bình chứa nhiên liệu của xe cuốc, gây thiệt hại tương đương 2.258.800 đồng. Xét xử bị cáo theo khoản 1 Điều 178 Bộ luật Hình sự là có căn cứ.

Hiện nay các tội phạm xâm phạm quyền sở hữu về tài sản còn xảy ra nhiều, gây thiệt hại về tài sản, gây mất an ninh trật tự và an toàn công cộng. Đối với người phạm tội cần xử phạt cho nghiêm nhằm đảm bảo tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung trong xã hội.

Bị cáo đã bị xử phạt hành chính cũng về hành vi tương tự ngày 30-8-2016. Bản thân không nộp phạt và cũng không chịu cải sửa. Mức độ phạm pháp ngày càng cao. Bị cáo thể hiện thái độ hết sức ngoan cố, khó cải sửa.

Khi lượng hình Tòa án sơ thẩm đã xem xét các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo. Bị cáo có nhân thân rất xấu: Trong khoảng thời gian từ năm 2016 đến năm 2017, bị cáo liên tục bị xử phạt hành chính về hành vi xâm phạm trật tự công cộng và hủy hoại tài sản của người khác, nhưng không chịu cải sửa. Bị cáo thể hiện thái độ xem thường, ngoan cố và thách thức Pháp luật.

Mức hình phạt đã tuyên không nặng, nên giữ nguyên như kết luận của Kiểm sát viên.

Về phần trách nhiệm dân sự. Tòa án sơ thẩm đã áp giá cây chuối loại B, để buộc bị cáo bồi thường giá trị 78 cây chuối cho ông V là có thiệt thòi, bởi các lẽ:

- Ông V xác định trong số cây chuối bị chặt có 8 cây đã có buồng và 2 cây đã có bắp.

- Theo Thông báo bồi thường, hỗ trợ tái định cư và bảng chiết tính (BL.58, 65), thì ông V không được bồi thường cây trồng trên phần diện tích bị thu hồi quyền sử dụng đất. Tức là, ông V vẫn còn quyền thụ hưởng thành quả lao động của ông trên đất.

Do không có kháng cáo, kháng nghị nên phần quyết định này đã có hiệu lực thi hành. Tòa án sơ thẩm cần nghiêm túc rút kinh nghiệm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo. Giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Tuyên bố bị cáo Hồ Hữu T phạm tội Hủy hoại tài sản.

Căn cứ vào khoản 1 Điều 178; các điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt Hồ Hữu T 08 (tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt đầu chấp hành án.

Căn cứ vào Điều 48 Bộ luật Hình sự; các Điều 584, 585, 589 Bộ luật Dân sự.

Buộc bị cáo phải bồi thường cho ông Hồ Văn V 730.800 đồng.

Căn cứ vào điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu hủy 01 cây dao đã thu giữ trong vụ án.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực thi hành.

Không ai phải nộp án phí phúc thẩm.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án Dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án Dân sự.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án, cho đến khi thi hành án xong, người phải thi hành án còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 và khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự.

Cỡ chữ