- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thị M - Mua bán dụng cụ dùng vào việc sử dụng trái phép chất ma túy - phạm tội sản xuất, tàng trữ, vận chuyển hoặc mua bán phương tiệ…"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của b cáo Nguy n Th M. Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 335/2018/HS-ST ngày 10 tháng 11 năm 2018 của Tòa án nhân dân th xã D:
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƢƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 35/2019/HS-PT Ngày 22-02-2019 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƢƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trương Văn Lộc.
Các Thẩm phán:
Ông Bùi Ngọc Thạch;
Ông Lê Quân Vương.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguy n Th Ngân – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Nghiêm Đức Hưng - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 02 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương mở phiên tòa xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 20/2019/TLPT-HS ngày 04 tháng 01 năm 2019 đối với b cáo Nguy n Th M. Do có kháng cáo của b cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 335/2018/HS-ST ngày 10 tháng 11 năm 2018 của Tòa án nhân dân th xã D.
Họ và tên bị cáo có kháng cáo:
Nguy n Th M, sinh năm 1970 tại tỉnh Vĩnh Long; nơi thường trú: Ấp P, xã B, huyện L, tỉnh Vĩnh Long; nơi tạm trú: Số X, đường X, khu phố B, phường A, th xã D, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ học vấn: 02/12; quốc t ch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Nguy n Trung C, sinh năm 1937 và bà Phùng Th E, sinh năm 1937; tiền án, tiền sự: Không; b áp dụng biện pháp ngăn chặn bằng cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt tại phiên tòa.
Ngoài ra, trong vụ án còn có 02 người làm chứng do không liên quan kháng cáo nên Tòa án không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và di n biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 21 giờ ngày 07/4/2018, tại khu vực chốt dân quân thuộc khu phố B, phường A, th xã D, tỉnh Bình Dương, Công an phường A đi tuần tra phát hiện Nguy n Th M đang bán bộ dụng cụ dùng vào việc sử dụng trái phép chất ma túy cho Nguy n Minh K. Tại đây, Công an thu giữ 04 bộ dụng cụ dùng vào việc sử dụng trái phép chất ma túy M đang cầm trên tay và 01 bộ sử dụng ma túy M để trong túi áo khoác đang mặc trên người. Tiếp đó, M tự nguyện vào trong phòng trọ gần nơi M bán nước lấy 11 bộ dụng cụ dùng vào việc sử dụng trái phép chất ma túy giao nộp cho Công an phường A. Công an phường A tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.
Quá trình điều tra, Nguy n Th M khai nhận: M buôn bán nước giải khát và mua bộ dụng cụ dùng vào việc sử dụng trái phép chất ma túy của một người phụ nữ không rõ lai l ch với giá 10.000 (mười nghìn) đồng/01 bộ gồm: 01 cái nỏ bằng thủy tinh và 01 ống hút nhựa. Khi bán cho người khác thì M bán 01 bộ dụng cụ kèm theo 01 chai nước suối giá 40.000 (bốn mươi nghìn) đồng. Hàng tuần, người phụ nữ này cũng bán cho M khoảng 20 bộ dụng cụ để M bán lại cho người khác.
Khoảng 21 giờ ngày 07/4/2018, Nguy n Minh Đ chở K đến mua bộ dụng cụ dùng vào việc sử dụng trái phép chất ma túy, lúc này Đ ngồi trên xe mô tô còn K bước xuống hỏi M mua 04 bộ dụng cụ, M thỏa thuận với K mỗi bộ với giá 40.000 (bốn mươi nghìn) đồng kèm 01 chai nước suối, K mua 04 bộ với giá 160.000 (một trăm sáu mươi nghìn) đồng. Khi M lấy 04 bộ dụng cụ bán cho K và Đ thì Công an phường A bắt quả tang, Đ và K chưa giao tiền cho M. Vật chứng thu giữ gồm: 16 bộ dụng cụ dùng vào việc sử dụng trái phép chất ma túy.
Đối với người phụ nữ bán bộ dụng cụ cho M do không rõ nhân thân, lai l ch nên Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an th xã D tiếp tục điều tra xác minh và xử lý sau.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 335/2018/HS-ST ngày 10 tháng 11 năm 2018 của Tòa án nhân dân th xã D đã quyết đ nh:
Tuyên bố b cáo Nguy n Th M phạm tội “Mua bán dụng cụ dùng vào việc sử dụng trái phép chất ma túy”.
Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 254; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Xử phạt b cáo Nguy n Th M 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt b cáo để thi hành án.
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn tuyên về án phí, về biện pháp tư pháp và quyền kháng cáo theo quy đ nh của pháp luật.
Ngày 26/11/2018, b cáo Nguy n Th M có đơn kháng cáo xin được hưởng án treo với các lý do: B cáo đang b bệnh phải điều tr hàng ngày bằng thuốc, b cáo có mẹ già không có người chăm sóc.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa phúc thẩm phát biểu ý kiến: Sau khi xét xử sơ thẩm, b cáo có đơn kháng cáo xin được hưởng án treo. Đơn kháng cáo trong thời hạn luật đ nh nên hợp pháp. Tội danh, điều luật mà Tòa án cấp sơ thẩm xét xử và áp dụng đối với b cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội. Tại Tòa án cấp phúc thẩm, b cáo không cung cấp thêm được tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nào mới. Hành vi của b cáo gây tác hại xấu đối với xã hội, việc Tòa án cấp sơ thẩm không cho b cáo hưởng án treo là phù hợp, nhằm đáp ứng tình hình đấu tranh tội phạm về ma túy. Do đó, đề ngh Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của b cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm, b cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội và giữ nguyên kháng cáo.
B cáo nói lời sau cùng: B cáo mong Hội đồng xét xử xem xét cho b cáo hưởng án treo để về nuôi mẹ già, b cáo đang b bệnh phải điều tr bằng thuốc.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận đ nh như sau:
. Đơn kháng cáo của b cáo được thực hiện trong thời hạn luật đ nh nên đủ điều kiện để Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết theo quy đ nh của pháp luật.
. Tại phiên tòa phúc thẩm, lời khai của b cáo thống nhất với nội dung vụ án đã nêu trên, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đã đủ cơ sở kết luận: Khoảng 21 giờ ngày 07/4/2018, tại khu vực chốt dân quân thuộc khu phố B, phường A, th xã D, tỉnh Bình Dương, b cáo Nguy n Th M đã thực hiện hành vi bán bộ dụng cụ dùng vào việc sử dụng trái phép chất ma túy cho Nguy n Minh K. Tại đây, công an thu giữ 04 bộ dụng cụ dùng vào việc sử dụng trái phép chất ma túy b cáo M đang cầm trên tay và 01 bộ sử dụng ma túy M để trong túi áo khoác đang mặc trên người. Tiếp đó, M tự nguyện vào trong phòng trọ gần nơi M bán nước lấy 11 bộ dụng cụ dùng vào việc sử dụng trái phép chất ma túy. Tổng cộng: 16 bộ dụng cụ dùng vào việc sử dụng trái phép chất ma túy.
. Hành vi của b cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp tiếp tay cho những người sử dụng ma túy, ảnh hưởng đến tình hình trật tự tr an tại đ a phương. Hành vi của b cáo thực hiện với lỗi cố ý, b cáo có đủ năng lực để ch u trách nhiệm hình sự về tội phạm mà b cáo đã thực hiện. Như vậy, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử b cáo về tội “Mua bán dụng cụ dùng vào việc sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy đ nh tại điểm b khoản 1 Điều 254 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
. Xét kháng cáo của b cáo, Hội đồng xét xử xét thấy: Tại Tòa án cấp phúc thẩm, b cáo cung cấp các tài liệu thể hiện b cáo b bệnh tăng huyết áp, tai biến mạch máu não, tiểu đường. Tuy nhiên, tình tiết này đã được Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho b cáo nên Hội đồng xét xử không tiếp tục áp dụng tình tiết này đối với b cáo.
B cáo kháng cáo xin được hưởng án treo, căn cứ vào tính chất, mức độ hành vi phạm tội của b cáo, Hội đồng xét xử xét thấy, mặc dù b cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, tuy nhiên việc b cáo không chấp hành hình phạt tù sẽ gây ảnh hưởng đến công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm tại đ a phương, đặc biệt là các tội phạm về ma túy đang gia tăng và di n biến phức tạp trên đ a bàn th xã D nói riêng và tỉnh Bình Dương nói chung. Như vậy, cần thiết phải cách ly b cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất đ nh để răn đe, giáo dục đối với b cáo và góp phần đấu tranh phòng chống tội phạm. Tòa án cấp sơ thẩm tuyên hình phạt tù đối với b cáo là phù hợp, kháng cáo của b cáo về việc xin được hưởng án treo là không có cơ sở chấp nhận.
Đề ngh của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương về việc không chấp nhận kháng cáo của b cáo là phù hợp.
. Các phần quyết đ nh khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng ngh nên có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng ngh .
. Án phí hình sự phúc thẩm: Do kháng cáo không được chấp nhận nên b cáo phải ch u án phí hình sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự,
1. Không chấp nhận kháng cáo của b cáo Nguy n Th M. Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 335/2018/HS-ST ngày 10 tháng 11 năm 2018 của Tòa án nhân dân th xã D:
Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 254; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Xử phạt b cáo Nguy n Th M 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Mua bán dụng cụ dùng vào việc sử dụng trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt b cáo để thi hành án.
2. Án phí hình sự phúc thẩm: Áp dụng Điều 135; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Ngh quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy đ nh về mức thu, mi n, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: B cáo Nguy n Th M phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng.
3. Các quyết đ nh khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng ngh đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng ngh .
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Bình Dương; 1 - Phòng PV 06 - CA tỉnh Bình Dương; 1 - TAND th xã D; 2 - VKSND th xã D; 1 - Chi cục THADS th xã D; 1 - CQCSĐT CA th xã D; 1 - B cáo; 1 - Trại Tạm giam CA tỉnh BD; 1 - Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương; 1 - Tổ Hành chính Tư pháp; 2 - Lưu hồ sơ vụ án. 1 | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨMỬ PHÚC THẨM N TOÀ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Trƣơng Văn Lộc |