vanban.org

Bản án 35/2019/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng tín dụng

TAND TP. Cam Ranh, tỉnh Khánh Hòa Tuyên án 25/11/2019 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Nghị quyết 326/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn là ông Nguyễn Quang T phải trả cho Ngân hàng TMCP S số tiền (gốc + lãi) tính đến ngày 25/11/2019 là 54.778.077 đồng (bằng chữ: năm mươi bốn triệu, bảy trăm bảy mươi tám ngàn, không trăm bảy mươi bảy đồng) (bao gồm tiền gốc: 31.212.413 đồng, tiề… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Ngân hàng TMCP S - Ông Nguyễn Quang T"
  • Tòa quyết gì? Nghị quyết 326/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
  • Căn cứ chính? Điều 13 Thông tư số 39/2016/TT-NHNN Quy định về hoạt động cho vay củ…; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ C
TỈNH KHÁNH HÒA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 35/2019/DS-ST
Ngày: 25/11/2019
V/v "Tranh chấp hợp đồng tín dụng"

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ C - TỈNH KHÁNH HÒA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hiếu

Hội thẩm nhân dân:

Bà Phan Thị Hồng

Bà Võ Thị Diệu Thảo

Thư ký phiên tòa:

Bà Dương Thị Thủy - Cán bộ Tòa án nhân dân thành phố C, tỉnh Khánh Hòa.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố C tham gia phiên tòa:

Ông Bùi Văn Khánh – Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 11 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố C mở phiên tòa xét xử công khai vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số: 94/2019/TLST-DS ngày 30 tháng 8 năm 2019 về "Tranh chấp hợp đồng tín dụng" theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 43/2019/QĐXXST-DS ngày 23 tháng 10 năm 2019 và Quyết định hoãn phiên tòa số 43/2019/QĐST-DS ngày 11 tháng 11 năm 2019, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP S; Địa chỉ: 266-268 N, phường X, quận Y, TP. Hồ Chí Minh.

Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: ông Nguyễn Văn H – Trưởng Phòng Kiểm soát rủi ro Chi nhánh N (là đại diện theo ủy quyền theo giấy ủy quyền số 02/2019/GUQ-CNNH ngày 02/01/2019 của Giám đốc Ngân hàng TMCP S – Chi nhánh N và Giấy ủy quyền số 4030/2018/GUQ-PL ngày 10/12/2018 của Tổng giám đốc, người đại diện theo pháp luật của Ngân hàng TMCP S). Vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

Bị đơn: Ông Nguyễn Quang T; Địa chỉ: Thôn TH (nay thuộc thôn TS), xã CPĐ, thành phố C, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Nguyên đơn do ông Nguyễn Văn H – đại diện theo ủy quyền trình bày: Ngày 12/01/2017, ông Nguyễn Quang T có ký với Ngân hàng TMCP S – Chi nhánh N (sau đây gọi tắt là Ngân hàng) hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng, số tiền 30.000.000 đồng (bằng chữ: ba mươi triệu đồng).Tuy nhiên, trong quá trình sử dụng thẻ, ông Nguyễn Quang T đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng nên ngày 31/3/2018, Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn. Mặc dù Ngân hàng đã thường xuyên đôn đốc, nhiều lần liên lạc với ông Nguyễn Quang T, yêu cầu có trách nhiệm thanh toán ngay khoản nợ quá hạn, đồng thời Ngân hàng cũng tạo điều kiện về mặt thời gian để trả nợ. Tuy nhiên, ông Nguyễn Quang T vẫn chưa thanh toán khoản nợ vay quá hạn cho Ngân hàng, vi phạm các điều khoản đã quy định tại hợp đồng sử dụng thẻ.

Nay Ngân hàng khởi kiện, yêu cầu ông Nguyễn Quang T phải trả khoản nợ tạm tính đến ngày 02/7/2019 là 49.081.741 đồng (trong đó nợ gốc: 31.212.413 đồng, nợ lãi: 17.869.328 đồng) và khoản lãi phát sinh từ ngày 03/7/2019 đến khi trả hết nợ vay theo Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng đã ký kết.

Tại đơn xin xét xử vắng mặt, nguyên đơn xác nhận, tính đến ngày 25/11/2019, số nợ của ông Nguyễn Quang T tổng cộng: 54.778.077 đồng (bao gồm tiền gốc: 31.212.413 đồng, tiền lãi: 23.565.664 đồng), tiền lãi vẫn phát sinh từ ngày 26/11/2019 đến khi trả dứt nợ vay theo hợp đồng tín dụng đã ký kết.

Bị đơn đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố C đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn trả trả khoản nợ tạm tính đến ngày 25/11/2019 là 54.778.077 đồng (bao gồm tiền gốc: 31.212.413 đồng, tiền lãi: 23.565.664 đồng) và khoản lãi phát sinh từ ngày 26/11/2019 đến khi trả hết nợ vay theo Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng đã ký kết. Về án phí: bị đơn chịu toàn bộ án phí, hoàn trả cho nguyên đơn số tiền tạm ứng án phí đã nộp.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa, bị đơn vắng mặt mặc dù đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai. Nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Do vậy, Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 227 và Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự quyết định tiến hành xét xử vắng mặt đối với các đương sự.

Về quan hệ tranh chấp: theo tài liệu nguyên đơn cung cấp thể hiện các bên có giao kết Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng thể hiện ở Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng. Xét Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng được các bên tự nguyện giao kết, nội dung và hình thức không trái quy định pháp luật nên có hiệu lực.

Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

Theo hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng thì bị đơn được cấp hạn mức tín dụng là 30.000.000 đồng, mục đích tiêu dùng. Đến ngày 25/11/2019, ông Nguyễn Quang T còn nợ số tiền đã tiêu dùng bằng thẻ tín dụng là 31.212.413 đồng, quá hạn thanh toán từ ngày 31/3/2018. Xét các yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thì thấy rằng:

Đối với yêu cầu trả nợ gốc: nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn trả nợ gốc 31.212.413 đồng là phù hợp Điều 466 của Bộ luật dân sự và thỏa thuận của các bên nên chấp nhận.

Về nợ lãi: Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng theo Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng được ràng buộc bởi Bản điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng cá nhân của Ngân hàng TMCP S. Theo Điều 25.1 của Bản điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng cá nhân, có quy định cách tính lãi như sau: “...Nếu chủ thẻ không thanh toán hoặc thanh toán không đầy đủ số tiền đến hạn vào hoặc trước hoặc ngày đến hạn theo TBGD, chủ thẻ phải thanh toán lãi cho Sacombank đối với tất cả các khoản nợ được thể hiện trong TBGD hiện tại và đối với bất kỳ khoản nợ nào phát sinh sau đó trên thẻ cho đến khi toàn bộ các khoản nợ đến hạn ghi trong TBGD mới nhất được thanh toán hoặc trước ngày đến hạn...”. Như vậy, tính đến ngày 25/11/2019 số tiền lãi là 23.565.664 đồng và số tiền nợ lãi vẫn phát sinh từ ngày 26/11/2019 đến khi trả dứt nợ. Xét yêu cầu nợ lãi nêu trên của Ngân hàng là phù hợp với các thỏa thuận trong hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng đã ký kết, nên chấp nhận.

Tổng cộng khoản nợ tính đến ngày 25/11/2019 ông Nguyễn Quang T phải trả cho Ngân hàng là 54.778.077 đồng.

Về án phí: Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận, nên bị đơn phải chịu toàn bộ án phí là 2.738.900 đồng. Hoàn lại cho nguyên đơn số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 1.181.000 đồng.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng:

- Điều 91, Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng;

- Điều 466 của Bộ luật dân sự năm 2015;

- Điều 13 thông tư 39/2016/TT-NHNN ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam “Quy định về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng, chi nhánh Ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng”.

- Điều 227, Điều 228, Điều 266 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;

- Nghị quyết 326/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn là ông Nguyễn Quang T phải trả cho Ngân hàng TMCP S số tiền (gốc + lãi) tính đến ngày 25/11/2019 là 54.778.077 đồng (bằng chữ: năm mươi bốn triệu, bảy trăm bảy mươi tám ngàn, không trăm bảy mươi bảy đồng) (bao gồm tiền gốc: 31.212.413 đồng, tiền lãi: 23.565.664 đồng) và khoản lãi phát sinh từ ngày 26/11/2019 đến khi trả hết nợ vay theo Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng đã ký kết.

2. Án phí: Bị đơn ông Nguyễn Quang T phải chịu án phí là 2.738.900 đồng (bằng chữ: Hai triệu, bảy trăm ba mươi tám ngàn, chín trăm đồng), hoàn lại cho nguyên đơn Ngân hàng TMCP S số tiền tạm ứng án phí là 1.181.000 đồng (bằng chữ: một triệu, một trăm tám mươi mốt ngàn đồng) theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số AA/2018/0009026 ngày 13/6/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự Thị xã N – tỉnh Khánh Hòa.

3. Quy định:

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

4. Quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày tính từ ngày họ nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ