vanban.org

Bản án 35/2019/DS-ST — Dân sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xét xử vắng mặt ông Huỳnh Văn T và bà Diệp Cẩm Ch.

Buộc ông Huỳnh Văn T và vợ là bà Diệp Cẩm Ch có nghĩa vụ thanh toán khoản tiền mua thức ăn nuôi tôm cho ông Liêu H với tổng số tiền là 28.287.000 (hai mươi tám triệu hai trăm tám mươi bảy ngàn) đồng. Kể từ ngày ông H có đơn yêu cầu thi hành án. Trường hợp ông T và bà Ch không chịu thanh toán khoản t… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án dân sự — "Ông Liêu H yêu cầu vợ chồng ông T thanh toán nợ"
  • Tòa quyết gì? Xét xử vắng mặt ông Huỳnh Văn T và bà Diệp Cẩm Ch.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỚI BÌNH CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 35/2019/DS-ST
Ngày: 12-8-2019
V/v tranh chấp tiền trong hợp đồng mua bán
thức ăn nuôi tôm

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỚI BÌNH, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Trọng Quế

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Hồ Lệ Hoa

2. Ông Trần Phi Hùng

- Thư ký phiên toà: Bà Lê Thị Bảo Trâm, là Thư ký Toà án nhân dân huyện Thới Bình

Trong ngày 12 tháng 8 năm 2019, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Thới Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 101/2019/TLST-DS ngày 04 tháng 6 năm 2019, về tranh chấp tiền trong hợp đồng mua bán thức ăn nuôi tôm

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 50/2019/QĐST-DS ngày 16 tháng 7 năm 2019, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ông Liêu H, sinh năm 1982 (có mặt)

Địa chỉ: Khóm 1, thị trấn Th, huyện Th, tỉnh Cà Mau

2. Bị đơn:

2.1. Ông Huỳnh Văn T (vắng mặt)

2.2. Bà Diệp Cẩm Ch (vắng mặt)

Cùng địa chỉ: Ấp 7, xã Th, huyện Th, tỉnh Cà Mau

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Quá trình tham gia tố tụng, nguyên đơn là ông Liêu H trình bày:

Vào ngày 08/5/2017, ông Huỳnh Văn T có đến cơ sở của ông H để hợp đồng mua thức ăn nuôi tôm. Sau nhiều lần mua, ông T còn nợ ông H là 30.787.000 đồng. Nhưng sau đó chỉ trả được 2.500.000 đồng. Ông T và vợ là bà Diệp Cẩm Ch hứa trả từ từ nhưng cũng không thực hiện. Nay ông H yêu cầu vợ chồng ông T thanh toán khoản tiền mua thức ăn nuôi tôm còn thiếu.

Tại phiên tòa hôm nay: Ông H xác định số tiền yêu cầu vợ chồng ông T thanh toán là 28.287.000 đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Bị đơn là ông T và vợ là bà Ch (gọi chung là vợ chồng ông T) được triệu tập tham gia phiên tòa lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do. Căn cứ khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt vợ chồng ông T.

[2] Tuy vợ chồng ông T không có văn bản trả lời, nhưng với các tài liệu do phía ông H cung cấp, xác định được vợ chồng ông T do ông T đại diện có hợp đồng mua thức ăn nuôi tôm với ông H vào ngày 08/5/2017. Căn cứ vào khoản 2 Điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự, công nhận hợp đồng mua bán thức ăn nuôi tôm giữa các đương sự là có thật và hợp pháp.

Quá trình mua bán thức ăn nuôi tôm, theo ông H xác định, vợ chồng ông T còn nợ ông H 30.787.000 đồng. Vợ chồng ông T có viết biên nhận nợ số tiền này. Sau đó, vợ chồng ông T có trả cho ông H được 02 lần với tổng số tiền là 2.500.000 đồng (ông H có ghi sổ riêng), còn nợ lại 28.287.000 đồng. Do vợ chồng ông T không có ý kiến gì khác, nên chấp nhận yêu cầu của ông H, buộc vợ chồng ông T phải thanh toán cho ông H số tiền mua thức ăn nuôi tôm còn nợ là 28.287.000 đồng.

Trường hợp chậm thanh toán số tiền nói trên, vợ chồng ông T còn phải chịu thêm khoản tiền lãi theo quy định.

Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận, nên vợ chồng ông T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch 5%. Phần ông H nộp tạm ứng án phí được nhận lại.

Tại phiên tòa: Ông H có mặt, nên thời hạn kháng cáo tính kể từ ngày tuyên án. Vợ chồng ông T vắng mặt, nên thời hạn kháng cáo tính kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 147, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 440 của Bộ luật dân sự; Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

1. Xét xử vắng mặt ông Huỳnh Văn T và bà Diệp Cẩm Ch.

2. Buộc ông Huỳnh Văn T và vợ là bà Diệp Cẩm Ch có nghĩa vụ thanh toán khoản tiền mua thức ăn nuôi tôm cho ông Liêu H với tổng số tiền là 28.287.000 (hai mươi tám triệu hai trăm tám mươi bảy ngàn) đồng.

3. Kể từ ngày ông H có đơn yêu cầu thi hành án. Trường hợp ông T và bà Ch không chịu thanh toán khoản tiền nói trên cho ông H, thì hàng tháng, vợ chồng ông T còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền phải thi hành án theo lãi suất được quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự.

4. Ông T và bà Ch phải chịu 1.414.000 (một triệu bốn trăm mười bốn ngàn, tính tròn số) đồng án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch 5%.

5. Trả lại cho ông H khoản tiền nộp tạm ứng án phí 707.000 (bảy trăm lẻ bảy ngàn) đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0006198 ngày 03/6/2019 do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thới Bình phát hành.

6. Nguyên đơn được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được nhận bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

7. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ