- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn Hùng và đồng phạm phạm tội Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn H (tên gọi khác Nguyễn Phi H), Đỗ Quang P phạm tội: Trộm cắp tài sản
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 52 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số 97/2015/QH13 Về chất vấn và trả lời chất vấn t…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI DƢƠNG TỈNH HẢI DƢƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| --------------- Bản án số: 35/2018/HSST Ngày 09-02-2018 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI DƢƠNG, TỈNH HẢI DƢƠNG
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Công Hoan
Ông Nguyễn Mạnh Tuân
-Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hà - Thƣ ký Toà án nhân dân thành phố Hải Dƣơng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Dương tham gia phiên toà: Bà Bùi Thị Hậu - Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 02 năm 2018 tại trụ sở, Tòa án nhân dân thành phố Hải Dƣơng, tỉnh Hải Dƣơng xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ L số 21/2018/HSST ngày 24 tháng 01 năm 2018 theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số 34/QĐST ngày 30-01-2018 đối với các bị cáo:
1.Nguyễn Văn H (tên gọi khác: Nguyễn Phi H) sinh năm 1952. ĐKHKTT: Số S Lạch Tray, Phƣờng H, quận L, TP. Hải Phòng; cƣ trú tại: M Lê Lợi, phƣờng G, quận Ngô Quyền, TP. Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 7/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn R và bà Nguyễn Thu A (đều đã chết); có vợ là Đỗ Thị N, sinh năm 1958 và 04 con.
Tiền sự: Chƣa.
Tiền án: Bản án số 30/2006/HSST ngày 27-01-2006 của TAND quận Ba Đình, TP. Hà Nội xử phạt H 48 tháng tù về tội "Trộm cắp tài sản", đã chấp hành xong hình phạt tù ngày 30-4-2009, chƣa thi hành phần trách nhiệm dân sự 78.333.600đồng và tiền án phí.
Nhân thân:
- Bản án số 204/HS-ST ngày 18-9-1984 của TAND Q. Hai Bà Trƣng, TP. Hà Nội xử phạt H 36 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản của công dân.
- Bản án số 172/HSST ngày 30-01-1997 của TAND TP. Hà Nội xử phạt H 24 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản của công dân
- Bản án số 06 ngày 9-3-1999 của TAND huyện Tứ Kỳ xử phạt H 18 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản của công dân
- Bản án số 507/HS-ST ngày 28-10-2002 của TAND Q. Đống Đa, TP. Hà Nội xử phạt H 24 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản.
Bị bắt tạm giữ từ ngày 31-7-2017, chuyển tạm giam ngày 09-8-2017 Hiện tạm giam tại Trại tạm giam Kim Chi - Công an tỉnh Hải Dƣơng. Có mặt.
2. Đỗ Quang P , sinh năm 1968. ĐKHKTT: 15/56/46 Lạch Tray, phƣờng Hàng Kênh, quận Lê Chân,TP. Hải Phòng. Nơi cƣ trú: Tổ 22 Hoàng Minh Thảo, phƣờng Dƣ Hàng kênh, quận Lê Chân, TP. Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 06/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đỗ Văn Đạm (đã chết) và bà Nguyễn Thị Thái, sinh năm 1929; có vợ là Nguyễn Thị Liên, sinh năm 1969 và 02 con.
Tiền sự: Chƣa.
Tiền án: Bản án số 82/2014/HSST ngày 25-6-2014 của TAND thành phố Hải Phòng xử phạt P 4 năm tù về tội Trộm cắp tài sản, đã chấp hành xong hình phạt tù ngày 19-01-2017, chƣa thi hành phần trách nhiệm dân sự 20.030.000đ; tiền truy thu 5.000.000đ và tiền án phí dân sự sơ thẩm 1.001.500đ.
Nhân thân:
- Bản án số 179/HSST ngày 27-12-1982 của TAND quận Ngô Quyền, Hải Phòng xử phạt P 12 tháng tù về tội Cƣớp giật tài sản riêng của công dân.
- Bản án số 179/HSST ngày 05-9-2006 của TAND quận Ngô Quyền, Hải Phòng xử phạt 06 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản.
Bị bắt tạm giữ từ ngày 31-7-2017, chuyển tạm giam ngày 09-8-2017. Hiện tạm giam tại Trại tạm giam Kim Chi - Công an tỉnh Hải Dƣơng. Có mặt.
Người bị hại :
1. Ông Lã Văn L, sinh năm 1939 và bà Nguyễn Thị K, sinh năm 1949; cƣ trú tại: Số 25/34/73 đƣờng Nguyễn Chí Thanh, phƣờng T, thành phố Hải Dƣơng, tỉnh Hải Dƣơng. Ông L có mặt, bà K xin xét xử vắng mặt.
2. Ông Nguyễn Đức L, sinh năm 1968 và bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1972; cƣ trú tại: Số 12 phố L, phƣờng Lê Thanh Nghị, thành phố Hải Dƣơng, tỉnh Hải Dƣơng. Bà M ủy quyền cho ông L tham gia tố tụng tại phiên tòa; ông L có mặt.
3. Bà Khƣơng Thị L, sinh năm 1948; cƣ trú tại Lô 70.185 phố H, phƣờng T, thành phố Hải Dƣơng, tỉnh Hải Dƣơng.
4. Bà Lƣơng Thị T, sinh năm 1940; cƣ trú tại: Số 163 phố Q, phƣờng Bình Hàn, thành phố Hải Dƣơng, tỉnh Hải Dƣơng.
5. Chị Hà Thị T, sinh năm 1984; cƣ trú tại Lô K3.21 khu A, phƣờng Thanh Bình, thành phố Hải Dƣơng.
Bà L, bà T, chị T đều vắng mặt – có đơn xin xét xử vắng mặt.
Người làm chứng:
1. Bà Phạm Thị N, sinh năm 1934; cƣ trú tại: Số 208 Nguyễn Văn Linh, phƣờng T, thành phố Hải Dƣơng, tỉnh Hải Dƣơng.
2. Bà Phạm Thị T, sinh năm 1975; cƣ trú tại: Số 69 Kim Sơn, phƣờng T, Tp Hải Dƣơng.
3. Ông Nguyễn Danh D, sinh năm 1968; cƣ trú tại: Số 69 Kim Sơn, phƣờng T, Tp Hải Dƣơng.
4. Bà Ngô Thị V, sinh năm 1957; cƣ trú tại: Lô K3.21 khu 6, phƣờng T, TP Hải Dƣơng.
5. Anh Đỗ Anh T, sinh năm 1989; cƣ trú tại: Tổ 22 Hoàng Minh Thảo, phƣờng D, Quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng.
Đều vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:
Nguyễn Văn H và Đỗ Quang P quen biết nhau từ trƣớc. Để có tiền tiêu xài, H rủ P về TP. Hải Dƣơng,tìm nhà nào có ngƣời già hoặc trẻ nhỏ ở nhà một mình thì giả vờ nhận làm ngƣời quen, lợi dụng sơ hở để trộm cắp tài sản, P đồng ý và sử dụng xe máy Sirius màu trắng - đen, biển số 15B1- 877.31 chở H đi. Ngày 31-7-2017, Nguyễn Văn H và Đỗ Quang P đến nhà bà Hoàng Thị Oanh ở số 43 phố Lê Hồng Phong, phƣờng Nguyễn Trãi, thành phố Hải Dƣơng. Trong khi đang nói chuyện với bà Oanh (chƣa thực hiện hành vi phạm tội) thì bị quần chúng nhân dân phát hiện, thông báo với Công an phƣờng Nguyễn Trãi và bắt giữ H, P về làm việc. Tại Cơ quan cảnh sát điều tra – Công an thành phố Hải Dƣơng, Nguyễn Văn H và Đỗ Quang P khai nhận trong khoảng thời gian từ ngày 17/4/2017 đến ngày 26/7/2017 đã thực hiện 5 hành vi trộm cắp tài sản, cụ thể nhƣ sau:
- Hành vi thứ nhất: Khoảng 10 giờ ngày 17-4-2017, P điều khiển xe máy Sirius, biển số 15B1- 877.31 chở H đến TP. Hải Dƣơng, khi đi đến nhà ông Lã Văn L và bà Nguyễn Thị K thấy có một mình ông L ở nhà, P và H giả vờ là ngƣời quen của con trai ông L, trong lúc P ngồi nói chuyện với ông L, H giả vờ đi vệ sinh nhƣng lên phòng ngủ tầng 2 mở tủ lấy 01 lắc vàng tây 18k, đính đá công nghiệp, trọng lƣợng 1,5 chỉ; 02 dây chuyền bạc, mỗi dây trọng lƣợng 1 chỉ; 01 máy tính bảng Ipad 3 sam sung garaxy,màu ghi, bản 32Gb, sử dụng mạng Wifi và 2.000.000đồng. Sau khi trộm cắp đƣợc tài sản, H chia cho P 1.000.000đồng, 02 dây chuyền bạc, 01 máy tính bảng Ipad 3 Sam Sung còn chiếc lắc vàng tây H bán cho hiệu vàng không nhớ địa chỉ ở TP Hải Phòng đƣợc 2.000.000đồng. P vứt 02 dây chuyền bạc dọc đƣờng không nhớ địa điểm, chiếc Ipad Sam Sung P bán đƣợc cho một ngƣời không quen biết ở chợ Sắt, Hải Phòng đƣợc 200.000đồng.
Tại Kết luận định giá tài sản số 222/KL - HĐĐG ngày 11-9-2017 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự của UBND thành phố Hải Dƣơng kết luận: 01 lắc vàng tây 18k, đính đá công nghiệp, trọng lƣợng 1,5 chỉ trị giá 3.750.000đồng; 02 dây chuyền bạc, mỗi dây trọng lƣợng 1 chỉ trị giá 110.000đồng; 01 máy tính bảng Ipad 3 sam sung garaxy, màu ghi, bản 32Gb, sử dụng mạng Wifi trị giá 700.000đồng. Tổng là 4.560.000 đồng.
Hành vi thứ hai: Khoảng 10 giờ ngày 08-5-2017, P điều khiển xe máy Sirius, biển số 15B1- 877.31 chở H, khi đi đến nhà anh Nguyễn Đức L và chị Nguyễn Thị M thấy có bà Phạm Thị N là mẹ đẻ anh L đang ngồi ở ghế đá trƣớc cổng nhà, P và H dừng xe, H hỏi chuyện làm quen, P ngồi nói chuyện nhận là ngƣời quen của con bà Nấu, còn H giả vờ xem mẫu thiết kế để về xây nhà, H vào phòng ngủ tầng 2 lấy 02 chiếc đồng hồ đeo tay nam một nhãn hiệu Ogival và một nhãn hiệu Casio để ở mặt bàn gần đầu giƣờng ngủ, vào phòng ngủ tầng 3 lấy trong ngăn kéo tủ quần áo số tiền 110.000.000đồng. H chia cho P 50.000.000đồng; 02 chiếc đồng hồ H đƣa cho P , P bán cho một ngƣời không quen biết ở chợ Sắt, TP Hải Phòng đƣợc 2.500.000đồng, P chia cho H 1.000.000đồng.
Tại Kết luận định giá tài sản số 222/KL - HĐĐG ngày 11-9-2017 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự của UBND thành phố Hải Dƣơng kết luận 02 chiếc đồng hồ đeo tay nam một nhãn hiệu Ogival, trị giá 14.000.000 đồng và một nhãn hiệu Casio, trị giá 10.850.000 đồng. Tổng là 24.850.000 đồng
Hành vi thứ ba: Khoảng 10 giờ 15phút ngày 17-7-2017 P chở H đi qua nhà bà Khƣơng Thị L, thấy có cháu Trƣơng Thanh Tr đang ngồi trong nhà. P dừng xe máy đứng ở ngoài chờ, H hỏi cháu Trúc nói bố mẹ không có nhà, chỉ có bà L đang trồng rau bên ngoài vƣờn, H nhận là ngƣời quen của bố cháu Trúc và hỏi phòng ngủ của bà L để lấy hồ sơ cho bố cháu. H đi lên tầng 2 vào phòng ngủ bà L, mở tủ lấy 25.000.000đồng; 01 dây chuyền vàng ta 24k, trọng lƣợng 06 chỉ, 01 lắc vàng tây 18k, trọng lƣợng 1 chỉ. Trên đƣờng đi về vào một quán nƣớc không nhớ địa chỉ ở TP. Hải Dƣơng, H bỏ tiền ra đếm chia cho P 5.000.000đồng, số vàng H giấu không nói cho P biết, một mình mang vàng về một cửa hiệu vàng không nhớ địa chỉ ở TP. Hải Phòng bán đƣợc 13.000.000đồng. Toàn bộ số tiền này H và P đã tiêu sài cá nhân hết.
Tại Kết luận định giá tài sản số 222/KL - HĐĐG ngày 11-9-2017 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự của UBND thành phố Hải Dƣơng kết luận: 01 dây chuyền chất liệu vàng ta 24k, trọng lƣợng 06 chỉ, trị giá 21.480.000 đồng; 01 lắc chất liệu vàng tây 18k, trọng lƣợng 1 chỉ, trị giá 2.360.000 đồng. Tổng là 23.840.000đồng.
Hành vi thứ tƣ: Khoảng 09 giờ ngày 26-7-2017, P điều khiển xe máy Sirius, biển số 15B1- 877.31 chở H đến TP. Hải Dƣơng, khi đi đến nhà bà Lƣơng Thị T, H nhận là ngƣời quen của con dâu bà T, P ngồi nói với bà T, H giả vờ xem mẫu thiết kế để về xây nhà, H lên phòng ngủ tầng 2, dùng dao có sẵn trong phòng cậy tủ lấy đi 02 nhẫn vàng ta, chất lƣợng 24k (một chiếc mặt vuông, một chiếc dạng tròn trơn) trọng lƣợng mỗi nhẫn 02 chỉ; 01 dây chuyền vàng ta, dạng mắt xích hình trái tim, trọng lƣợng 05 chỉ. Sau đó H và P mang bán dây chuyền cho một hiệu vàng không nhớ địa chỉ ở TP. Hải Dƣơng đƣợc 16.000.000đồng, H chia cho P 8.000.000 đồng. Còn 02 chiếc nhẫn H giấu không nói cho P biết, sau mang bán cho một hiệu vàng, không nhớ địa chỉ ở TP. Hải Phòng đƣợc 6.000.000đồng chi tiêu cá nhân, không chia cho P .
Tại Kết luận định giá tài sản số 222/KL - HĐĐG ngày 11-9- 2017 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự của UBND thành phố Hải Dƣơng kết luận: 02 nhẫn vàng ta, chất lƣợng 24k (một chiếc mặt vuông, một chiếc dạng tròn trơn) trọng lƣợng mỗi nhẫn 02 chỉ, trị giá hai chiếc nhẫn là 14.320.000đồng; 01 dây chuyền vàng ta, dạng mắt xích hình trái tim, trọng lƣợng 05 chỉ, trị giá 17.900.000 đồng. Tổng là 32.220.000đồng.
Hành vi thứ 5: Khoảng 10 giờ ngày 26-7-2017, P tiếp tục điều khiển xe máy Sirius, biển số 15B1- 877.31 chở H, khi đến nhà chị Hà Thị T, H bấm chuông, bà Ngô Thị V là mẹ chồng của chị T ra mở cửa, H nói chuyện và nhận là ngƣời quen của con bà Vang, còn P bảo đi xem thiết kế nhà, mang theo 01 túi xách màu đen đi lên gác, bà Vang đi theo P . Lợi dụng sơ hở, P đã vào phòng khách ở tầng lửng tầng 2 lấy 01 máy tính xách tay nhãn hiệu Acer, màu đen, ram 4Gb, chip Core i3, ổ cứng 500Gb, màn hình 14inch, để trên bàn học và vào phòng ngủ tầng 2 lấy 01 điện thoại di động, nhãn hiệu Sony M4AQUA, màu đen, số imei 355228087915599, lấy đƣợc tài sản P cùng H đi ra ngoài cổng thì gặp chị T đi về, H và P chào chị T rồi lên xe máy bỏ đi. Sau khi lấy đƣợc tài sản, P kiểm tra chiếc máy tính xách tay và chiếc điện thoại trộm cắp đƣợc thấy không bật đƣợc nguồn, nên mang ra khu vực chợ Sắt, TP. Hải Phòng bán đƣợc cho một ngƣời không quen biết đƣợc 300.000đồng, không chia cho H. Chiếc túi xách màu đen P cho ngƣời mua máy tính nên không quản L đƣợc.
Tại Kết luận định giá tài sản số 222/KL - HĐĐG ngày 11-9-2017 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự của UBND thành phố Hải Dƣơng kết luận: 01 máy tính xách tay Acer, màu đen, ram 4Gb, chíp core i3, ổ cứng 500Gb, màn hình 14 inch là 2.996.000đồng; 01 điện thoại di dộng hiệu Sony M4AQUA, màu đen, số imei 355228087915599 là 898.000đồng. Tổng là 3.894.000đồng.
Về trách nhiệm dân sự: Gia đình hai bị cáo đã bồi thƣờng cho chị Hà Thị T 3.000.000đ; cho ông Lã Văn L và bà Nguyễn Thị K 8.000.000đ, cho bà Lƣơng Thị T 10.000.000đ, bà Khƣơng Thị L 20.000.000đ. Đối với gia đình ông Nguyễn Đức L chƣa bồi thƣờng.
Tại bản cáo trạng số 31/VKS-HS ngày 18-01-2018, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Dƣơng truy tố bị cáo Nguyễn Văn H (tên gọi khác Nguyễn Phi H), Đỗ Quang P về tội ”Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà, bị cáo Nguyễn Văn H, Đỗ Quang P khai nhận về hành vi phạm tội theo nhƣ các lời khai thú nhận tội về các hành vi phạm tội của các bị cáo tại cơ quan điều tra; nhất trí kết luận định giá tài sản; xác định VKSND thành phố Hải Dƣơng truy tố các bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 là đúng. Về trách nhiệm dân sự: các bị cáo đã nhắn ngƣời thân của gia đình bồi thƣờng cho 4 gia đình ngƣời bị hại tổng số tiền là 41.000.000đ. Đối với số tiền đã bồi thƣờng cho gia đình ông Lã Văn L là 8.000.000đ, các bị cáo không đề nghị gì đối với số tiền đã bồi thƣờng thêm.
Ngƣời bị hại ông Lã Văn L trình bày: Nhất trí cáo trạng truy tố đối với các bị cáo về phần tài sản chiếm đoạt của gia đình ông, không có ý kiến gì kết luận định giá tài sản và nội dung cáo trạng; đề nghị xử phạt các bị cáo theo quy định của pháp luật và không đề nghị bồi thƣờng gì thêm.
Ông Nguyễn Đức L trình bày: Gia đình ông bị các bị cáo trộm cắp số tiền là 150.000.000đ và 02 chiếc đồng hồ; theo nhƣ các bị cáo khai về số tiền lấy của gia đình ông 110.000.000đ là không đúng còn thiếu 40.000.000đ. Tại phiên tòa hôm nay, ông L nhất trí cáo trạng của VKSND thành phố Hải Dƣơng truy tố các bị cáo về tội Trộm cắp tài sản; nhất trí kết luận định giá tài sản.Về hình phạt đề nghị xử theo quy định của pháp luật. Về trách nhiệm dân sự: Đề nghị các bị cáo phải bồi thƣờng số tiền chiếm đoạt cho gia đình ông là 150.000.000đ và trị giá 2 chiếc đồng hồ là 24.850.000đồng.
Bà Lƣơng Thị T có đơn xin xét xử vắng mặt. Nhất trí kết luận định giá tài sản. Về hình phạt đề nghị xử theo quy định của pháp luật. Về trách nhiệm dân sự: Đã nhận số tiền bồi thƣờng 10.000.000đ. Đề nghị các bị cáo phải bồi thƣờng tiếp cho bà số tiền là 22.220.000đ.
Bà Khƣơng Thị L, chị Hoàng Thị T có đơn xin xét xử vắng mặt. Nhất trí kết luận định giá tài sản. Về hình phạt đề nghị xử theo quy định của pháp luật; số tiền bồi thƣờng còn thiếu bà L, chị T cho các bị cáo và không đề nghị bồi thƣờng gì thêm.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Dƣơng giữ nguyên nội dung quyết định truy tố và đề nghị HĐXX:
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn H (tên gọi khác Nguyễn Phi H), Đỗ Quang P phạm tội: Trộm cắp tài sản
Về hình phạt: Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 173; điểm b, s, r khoản 1 Điều 51, điểm g, h khoản 1 Điều 52; Điều 17 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn H (tên gọi khác Nguyễn Phi H) 07 năm 03 tháng đến 07 năm 06 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ 31-7-2017.
Xử phạt: Bị cáo Đỗ Quang P 07 năm đến 07 năm 03 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ 31-7-2017.
Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 584, Điều 586; Điều 587; Điều 589 Bộ luật dân sự.
Bị cáo Nguyễn Văn H, Đỗ Quang P phải có trách nhiệm liên đới bồi thƣờng cho ông Nguyễn Đức L và bà Nguyễn Thị M số tiền 134.850.000đ; cho bà Lƣơng Thị T số tiền 22.220.000đồng.
Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 BLTTHS, Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016. Bị cáo Nguyễn Văn H đƣợc miễn nộp tiền án phí HSST và án phí DSST; bị cáo Đỗ Quang P phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm và án phí DSST theo quy định của pháp luật.
Các bị cáo không tranh luận gì với quan điểm của Kiểm sát viên và nói lời sau cùng đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Ông Nguyễn Đức L, ông Lã Văn L không có ý kiến tranh luận gì với quan điểm của Kiểm sát viên. Ông L đề nghị các bị cáo nhắn gia đình sớm bồi thƣờng cho gia đình ông số tiền, tài sản đã chiếm đoạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đƣợc tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định nhƣ sau:
Về hành vi của các bị cáo: Quá trình điều tra và tại phiên tòa chƣa đủ căn cứ xác định các bị cáo Nguyễn Văn H và Đỗ Quang P chiếm đoạt số tiền của gia đình ông Nguyễn Đức L và bà Nguyễn Thị M là 150.000.000đồng mà chỉ có căn cứ xác định số tiền các bị cáo chiếm đoạt là 110.000.000đồng và 02 chiếc đồng hồ trị giá là 24.850.000đồng nên không có căn cứ xem xét đối với khoản tiền còn thiếu là 40.000.000đồng của gia đình ông L, bà M. Ngƣời bị hai: ông Lã Văn L và bà Nguyễn Thị K; bà Lƣơng Thị T; bà Khƣơng Thị L; chị Hoàng Thị T không có ý kiến gì đối với phần tài sản các bị cáo chiếm đoạt. Vì vậy, căn cứ lời khai của các bị cáo tại phiên toà, tại cơ quan điều tra; lời khai của ngƣời bị hại và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án; có đủ cơ sở kết luận: Trong khoảng thời gian từ ngày 17/4/2017 đến ngày 26/7/2017, Nguyễn Văn H và Đỗ Quang P đã lợi dụng sơ hở chiếm đoạt của ông Lã Văn L và bà Nguyễn Thị K: 01 lắc vàng tây đính kèm đá công nghiệp, 02 dây chuyền bạc, 01 Ipad3 Samsung garaxy trị giá 4.560.000đ và 2.000.000đ, tổng là 6.560.000đ; của anh Nguyễn Đức L và chị Nguyễn Thị M 02 chiếc đồng hồ đeo tay nam nhãn hiệu Ogival và Casino trị giá 24.850.000đ và 110.000.000đồng, tổng là 134.850.000đ; của bà Khƣơng Thị L số tiền 25.000.000đồng và 1 dây chuyền vàng ta, 01 lắc vàng tây trị giá 23.840.000đ, tổng là 48.840.000đ; của bà Lƣơng Thị T 02 nhẫn vàng ta, trọng lƣợng mỗi nhẫn 2 chỉ, 01 dây chuyền vàng ta 05 chỉ tổng trị giá là 32.220.000đ; của chị Hà Thị T 01 máy tính xách tay nhãn hiệu Acer và 01 điện thoại Sony M4AQUA tổng trị giá là 3.894.000đ. Tổng giá trị tài sản các bị cáo chiếm đoạt là 226.364.000đồng. Các bị cáo đã di chuyển từ thành phố Hải Phòng về thành phố Hải Dƣơng với mục đích trộm cắp tài sản, thực hiện hành vi giữa ban ngày, đã dùng thủ đoạn nói dối những ngƣời già, trẻ em là ngƣời quen biết với ngƣời thân trong gia đình họ để vào nhà công khai, sau đó lợi dụng sơ hở lén lút chiếm đoạt tài sản của các chủ sở hữu tài sản. Các bị cáo Nguyễn Văn H, Đỗ Quang P là ngƣời có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của ngƣời khác là vi phạm pháp luật nhƣng vẫn cố ý thực hiện. Với hành vi và giá trị tài sản các bị cáo chiếm đoạt đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017. Xác định Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Dƣơng, tỉnh Hải Dƣơng truy tố các bị cáo về tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng ngƣời, đúng tội, đúng pháp luật.
Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội đã xâm phạm quyền sở hữu về tài sản của ngƣời khác đƣợc Bộ luật Hình sự bảo vệ. Do vậy, cần thiết xử phạt các bị cáo mức án nghiêm để phòng ngừa tội phạm xẩy ra tại địa bàn thành phố Hải Dƣơng nói riêng và toàn xã hội nói chung.
Xét vai trò của từng bị cáo trong vụ án thì thấy: Đây là vụ án đồng phạm giản đơn. Nguyễn Văn H là ngƣời đề xuất, rủ rê Đỗ Quang P phạm tội; H trực tiếp thực hiện 04 hành vi trộm cắp tài sản và trực tiếp bán tài sản, phân chia tài sản đƣợc hƣởng nhiều hơn P ; P trực tiếp điều khiển xe máy chở H từ thành phố Hải Phòng đến thành phố Hải Dƣơng trộm cắp tài sản, trực tiếp thực hiện 01 hành vi nên xác định H giữ vai trò thứ nhất, còn P giữ vai trò đồng phạm thực hiện tích cực. Từ việc đánh giá vai trò nhƣ trên cần xử phạt H mức án cao hơn so với P .
Xem xét nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo thì thấy: Về nhân thân: Cả hai bị cáo đều là ngƣời có nhân thân xấu. Về tình tiết tăng nặng: Cả hai bị cáo đều có tiền án về tội Trộm cắp tài sản chƣa đƣợc xóa án tích nay lại tiếp tục phạm tội và thực hiện 5 hành vi phạm tội mỗi hành vi phạm tội đều đủ yếu tố cấu thành tội Trộm cắp tài sản nên các bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng “Tái phạm” và “Phạm tội nhiều lần” quy định tại điểm g, h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Về tình tiết giảm nhẹ: Các bị cáo cũng đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình, nhắn ngƣời thân của bị cáo bồi thƣờng thiệt hại cho ngƣời bị hại; khi bị bắt đã tự thú khai nhận về các hành vi đã thực hiện nên đƣợc áp dụng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, r, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo nghề nghiệp không ổn định, hoàn cảnh gia đình kinh tế khó khăn, tuổi cao nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự:
Áp dụng Điều 48 Bộ luật hình sự, Điều 584, Điều 586; Điều 587; Điều 589 Bộ luật dân sự.
Các bị cáo chiếm đoạt tài sản của gia đình ông Nguyễn Đức L và bà Nguyễn Thị M 02 chiếc đồng hồ đeo tay nam nhãn hiệu Ogival và Casino trị giá 24.850.000đ và số tiền 110.000.000đồng, tổng là 134.850.000đ hiện chƣa bồi thƣờng, ông L bà M yêu cầu các bị cáo phải bồi thƣờng số tiền trên nên các bị cáo phải có trách nhiệm liên đới bồi thƣờng cho gia đình ông L số tiền này, chia kỷ phần mỗi bị cáo phải bồi thƣờng là 67.425.000đồng.
Các bị cáo chiếm đoạt tài sản của bà Lƣơng Thị T 02 nhẫn vàng ta, trọng lƣợng mỗi nhẫn 2 chỉ, 01 dây chuyền vàng ta 05 chỉ, tổng giá trị là 32.220.000đ; gia đình hai bị cáo đã bồi thƣờng 10.000.000đ, còn số tiền 22.220.000đ chƣa bồi thƣờng. Bà T xin xét xử vắng mặt và đề nghị 2 bị cáo phải bồi thƣờng số tiền còn lại là 22.220.000đ nên các bị cáo phải có trách nhiệm liên đới bồi thƣờng cho bà T số tiền trên, mỗi bị cáo phải bồi thƣờng là 11.110.000đồng.
- Các bị cáo chiếm đoạt tài sản của gia đình ông Lã Văn L và bà Nguyễn Thị K trị giá là 6.560.000đ, gia đình 2 bị cáo đã bồi thƣờng 8.000.000đ cho gia đình ông L, bà K. Các bị cáo không đề nghị gì đối với số tiền bồi thƣờng thêm là 1.440.000đ, cần chấp nhận sự tự nguyện của các bị cáo nên HĐXX không xem xét.
- Các bị cáo chiếm đoạt tài sản của chị Hà Thị T trị giá là 3.894.000đ; gia đình hai bị cáo đã bồi thƣờng 3.000.000đ, còn số tiền 894.000đ chƣa bồi thƣờng, chị T xin xét xử vắng mặt, không yêu cầu bồi thƣờng gì thêm, cho các bị cáo số tiền này nên HĐXX không xem xét.
- Các bị cáo chiếm đoạt tài sản của bà Khƣơng Thị L trị giá là 48.840.000đ; gia đình hai bị cáo đã bồi thƣờng 20.000.000đ, còn số tiền 28.840.000đ chƣa bồi thƣờng. Bà L xin xét xử vắng mặt và không yêu cầu 2 bị cáo phải bồi thƣờng gì thêm, cho các bị cáo số tiền này nên HĐXX không xem xét.
Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn H, sinh năm 1952 tại thời điểm xét xử bị cáo H đã trên 60 tuổi; theo Luật ngƣời cao tuổi thì bị cáo H thuộc diện là ngƣời cao tuổi nên theo quy định tại khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Quốc hội thì bị cáo thuộc trƣờng hợp đƣợc miễn nộp án phí, do đó bị cáo H không phải chịu án phí HSST và án phí DSST. Bị cáo Đỗ Quang P phải chịu án phí HSST và án phí DSST theo quy định của pháp luật.
Đối với số tiền theo ông Nguyễn Đức L và bà Nguyễn Thị M khai còn bị mất 40.000.000đ; trong quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa không có căn cứ làm rõ nên không xem xét trong vụ án này.
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Hải Dƣơng, Điều tra viên,Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Dƣơng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đó thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng đó thực hiện đều hợp pháp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn H (tên gọi khác Nguyễn Phi H), Đỗ Quang P phạm tội: Trộm cắp tài sản
2. Về hình phạt: Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 173; điểm b, s, r khoản 1 Điều 51, điểm g, h khoản 1 Điều 52; Điều 17 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn H (tên gọi khác Nguyễn Phi H) 07 năm 06 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ 31-7-2017.
Xử phạt: Bị cáo Đỗ Quang P 07 năm 03 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ 31-7-2017.
3. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 584, Điều 586; Điều 587; Điều 589 Bộ luật dân sự.
Buộc bị cáo Nguyễn Văn H (tên gọi khác Nguyễn Phi H), Đỗ Quang P có trách nhiệm liên đới bồi thƣờng cho ông Nguyễn Đức L và bà Nguyễn Thị M; cƣ trú tại: Số 12 phố L Thánh Tông, phƣờng Lê Thanh Nghị, thành phố Hải Dƣơng, tỉnh Hải Dƣơng số tiền 134.850.000đồng, chia kỷ phần mỗi bị cáo phải bồi thƣờng là 67.425.000đồng.
Buộc bị cáo Nguyễn Văn H (tên gọi khác Nguyễn Phi H), Đỗ Quang P có trách nhiệm liên đới bồi thƣờng cho bà Lƣơng Thị T; cƣ trú tại: Số 163 phố Quyết Thắng, phƣờng Bình Hàn, thành phố Hải Dƣơng, tỉnh Hải Dƣơng số tiền 22.220.000đồng, chia kỷ phần mỗi bị cáo bồi thƣờng là 11.110.000đồng.
Tổng số tiền bị cáo Nguyễn Văn H (tên gọi khác Nguyễn Phi H) phải bồi thƣờng là 78.535.000đồng.
Tổng số tiền bị cáo Đỗ Quang P phải bồi thƣờng là 78.535.000đồng.
Sau khi bản án có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án có đơn đề nghị thi hành án đối với khoản tiền trên, nếu người phải thi hành án chậm trả tiền thì phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả theo quy định tại Điều 357 Bộ luật Dân sự.
4. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 BLTTHS, Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016. Bị cáo Nguyễn Văn H (tên gọi khác Nguyễn Phi H) đƣợc miễn nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm; bị cáo Đỗ Quang P phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm và 3.926.750đ án phí dân sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự. Các bị cáo, ngƣời bị hại đƣợc quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm; ngƣời bị hại vắng mặt đƣợc quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận đƣợc bản án hoặc ngày bản án đƣợc niêm yết theo quy định của pháp luật.
Tr êng hîp b¶n ¸n, quyÕt ®Þnh ® îc thi hµnh theo quy ®Þnh t¹i §iÒu 2 LuËt thi hµnh ¸n d©n sù th× ng êi ® îc thi hµnh ¸n d©n sù, ng êi ph¶i thi hµnh ¸n d©n sù cã quyÒn tù tho¶ thuËn thi hµnh ¸n, quyÒn yªu cÇu thi hµnh ¸n, tù nguyÖn thi hµnh ¸n hoÆc bÞ c ìng chÕ thi hµnh ¸n theo quy ®Þnh t¹i c¸c §iÒu 6, 7 vµ 9 LuËt thi hµnh ¸n d©n sù, thêi hiÖu thi hµnh ¸n ® îc thùc hiÖn theo quy ®Þnh t¹i §iÒu 30 LuËt thi hµnh ¸n d©n sù./. Nơi nhận:
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- VKSND tỉnh Hải Dƣơng;
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà
- VKSND TP Hải Dƣơng;
- Công an TP Hải Dƣơng;
- Trại tạm giam-CA tỉnh HD;
- Chi cục THADS TP Hải Dƣơng;
- Sở tƣ pháp tỉnh Hải Dƣơng;
- Các bị cáo;
Nguyễn Thị Thu
- Ngƣời bị hại;
- Lƣu hồ sơ vụ án. TOÀ ÁN NHÂN DÂN
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM THÀNH PHỐ HẢI DƢƠNG
Độc L - Tự do - Hạnh P
TỈNH HẢI DƢƠNG
-----------------------------
---------------
Tp Hải Dương, ngày 21 tháng 4 năm 2017. THÔNG BÁO KẾT QUẢ XÉT XỬ Kính gửi: - UBND xã Cẩm Văn, huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dƣơng.
Tại bản án hình sự sơ thẩm số 60/2017/HSST ngày 20/4/2017 đối với bị cáo:
Họ và tên: Phạm Văn Hiện, sinh năm 1989.
ĐKHK và trú tại: thôn Văn Thai, xã Cẩm Văn, huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dƣơng.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 26/12/2016, chuyển tạm giam từ ngày 31/12/2016 đến nay tại Trại tạm giam Kim Chi - Công an tỉnh Hải Dƣơng.
Tòa án nhân dân thành phố Hải Dƣơng, tỉnh Hải Dƣơng đã:
1. Tuyên bố và xử phạt bị cáo Phạm Văn Hiện phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Áp dụng khoản 1 Điều 194, điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Phạm Văn Hiện 33 (Ba mươi ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 26/12/2016;
2. Về xử L vật chứng: Áp dụng Điều 99 Bộ luật Tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, Buộc bị cáo Phạm Văn Hiện phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
3. Về án phí: Áp dụng Điều 99 Bộ luật Tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, Buộc bị cáo Phạm Văn Hiện phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 231, Điều 234 Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo Phạm Văn Hiện đƣợc quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Vậy Tòa án nhân dân thành phố Hải Dƣơng thông báo để UBND xã Cẩm Văn, huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dƣơng đƣợc biết và theo dõi./.
| Nơi nhận: - Như kính gửi. THẨM PHÁN - Lưu. | TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI DƢƠNG |