- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị L phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số 41/2017/QH14 Về việc thi hành Bộ luật Hình sự…; Nghị quyết số 100/2015/QH13 Phê duyệt chủ trương đầu tư các…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TÂN UYÊN TỈNH BÌNH DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 35/2018/HS-ST Ngày 28-5-2018 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TÂN UYÊN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đinh Thị Mộng Tuyết;
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Đào Văn Nô;
2. Bà Nguyễn Thị Ngọc Anh.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thùy Dung – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Bá Trung - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 5 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 40/2018/HSST ngày 27 tháng 4 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 34/2018/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 5 năm 2018 đối với bị cáo:
Nguyễn Thị L, sinh năm 1994, tại Đồng Nai; nơi cư trú: Ấp QB, xã QT, huyện TB, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hoá: 4/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Thiên Chúa; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn V, sinh năm 1968 và bà Lê Thị Y, sinh năm 1967; có 03 con; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 26/5/2011, bị Tòa án nhân dân huyện TB, tỉnh Đồng Nai xử phạt 12 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” tại Bản án số 70/2011/HSST, bị cáo chấp hành xong hình phạt tù vào ngày 25/4/2012, chấp hành xong việc nộp án phí vào ngày 22/8/2011; bị bắt, tạm giữ từ ngày 13/8/2017 đến ngày 21/8/2017 và thay đổi biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay; có mặt.
- Bị hại: Bà NB, sinh năm 1980; nơi cư trú: Khu phố 7, phường UH, thị xã TU, tỉnh Bình Dương; vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Trần Văn Đ, sinh năm 1985; nơi cư trú: Ấp XH, thị trấn TB, huyện TB, tỉnh An Giang; vắng mặt.
- Người làm chứng: Ông Nguyễn Văn Q, ông Nguyễn Văn T và ông Nguyễn Văn H; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 06 giờ 00 phút, ngày 13/8/2017, Nguyễn Thị L đón xe ôm đi từ nhà tại ấp QB, xã QT, huyện TB, tỉnh ĐN đến khu vực chợ PC, thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương để tìm bạn tên Y (chưa rõ họ tên, địa chỉ) để lấy tiền mà Y đã mượn của L trước đó. Khi đi đến khu vực gần nhà trọ nơi Y thuê để ở, L gọi điện thoại cho Y nhiều lần nhưng không liên lạc được. Do không còn đủ tiền để đón xe về nhà nên L đi bộ về lại ĐN. Khi L đi được khoảng 02 km thì gặp một thanh niên (không rõ họ tên, địa chỉ) điều khiển xe mô tô hiệu Sirius (không rõ biển số) hỏi L đi đâu, L nói về ĐN thì người thanh niên này đồng ý chở L về. Trên đường về, người thanh niên này có nhờ L điều khiển 01 xe mô tô giùm về tỉnh ĐN. Nghe vậy, L nghĩ người thanh niên này nhờ L điều khiển xe mô tô mà người này đang điều khiển nên đồng ý. Khi đến khu vực chợ HL II, phường UH, thị xã TU, tỉnh Bình Dương thì người thanh niên này dừng xe lại sát lề đường rồi đi qua phía bên kia đường, đến vị trí xe mô tô biển số 67F1-030.83 của bà NB đang dựng trên lề đường không có người trông coi. Lúc này, L đứng cách tại vị trí người thanh niên này khoảng 05 mét và quan sát thấy người thanh niên này móc từ trong túi ra vật gì đó không rõ để mở khóa xe mô tô biển số 67F1-030.83. Sau đó, người thanh niên này đi đến chỗ L và kêu L đến điều khiển xe mô tô biển số 67F1-030.83 về ĐN. Nghe vậy, L hỏi chìa khóa xe đâu thì người này trả lời khỏi cần chìa khóa. L nghĩ người thanh niên này đang thực hiện hành vi trộm cắp xe nhưng do L không có tiền đón xe về nên L đồng ý điều khiển xe 67F1-030.83 về Đồng Nai giúp cho người thanh niên này. Sau đó, L đi đến vị trí xe mô tô biển số 67F1-030.83 và ngồi lên xe thì nhìn thấy đèn báo mở khóa xe bật sáng, L quan sát xung quanh thấy không có người nên khởi động máy xe rồi điều khiển chạy về hướng ĐN. Khi điều khiển xe mô tô biển số 67F1-030.83 chạy được khoảng 03 mét thì bà NB phát hiện, truy hô và cùng người dân truy đuổi khoảng 100 mét thì bắt được L giao cho Công an phường UH xử lý, còn người thanh niên đi cùng L thì điều khiển xe chạy thoát. Công an phường UH lập biên bản bắt người người phạm tội quả tang và thu giữ:
- 01 (Một) xe mô tô nhãn hiệu Sirius màu đỏ đen, biển số 67F1-030.83.
- 01 (Một) giấy đăng ký xe mô tô biển số 67 F1-030.83.
- 01 (Một) chìa khóa xe mô tô, trên chìa khóa có ghi chữ Yamaha, màu đen.
Sau đó, vụ việc được Công an phường UH lập hồ sơ ban đầu chuyển cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương thụ lý điều tra theo thẩm quyền.
Cơ quan Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Tân Uyên đã tiến hành thu giữ: 01 (Một) áo khoác màu đen, phía bên trái có chữ The North Face màu trắng.
Tại bản Kết luận định giá tài sản trong tố tụng hình sự số 142/KLTS– TTHS ngày 16/8/2017 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự thị xã Tân Uyên kết luận: 01 (Một) xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius màu đỏ, biển số 67F1-030.83, đã qua sử dụng, tại thời điểm ngày 13/8/2017 có giá trị là 8.000.000 đồng.
Cáo trạng số 40/CT-VKSTU ngày 24/4/2018 của Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Tân Uyên truy tố bị cáo Nguyễn Thị L về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa, Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Tân Uyên trong phần tranh luận, giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng khoản 1 Điều 173 và điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Nguyễn Thị L mức hình phạt từ 09 đến 12 tháng tù.
Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp: Không có.
Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Thị L đã khai nhận hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng truy tố đối với các bị cáo.
Bị cáo không nói lời sau cùng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Tân Uyên, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Tân Uyên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người bị hại không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp. Tại thời điểm bị cáo thực hiện hành vi phạm tội thì Bộ luật Hình sự năm 1999 sửa đổi bổ sung năm 2009 có hiệu lực thi hành và tội danh, mức hình phạt của Bộ luật Hình sự năm 2015 tương ứng với Bộ luật Hình sự năm 1999 sửa đổi bổ sung năm 2009. Do vậy, Hội đồng xét xử áp dụng Bộ luật Hình sự năm 2015 khi quyết định hình phạt đối với bị cáo.
Lời khai của bị cáo Nguyễn Thị L tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo đã khai báo trước cơ quan điều tra, lời khai của bị cáo trước sau đều thống nhất với nhau và phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai của người bị hại, người làm chứng cùng những tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Từ những chứng cứ nêu trên, Hội đồng xét xử có căn cứ kết luận: Ngày 13/8/2017, tại khu phố 7, phường UH, thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương, bị cáo Nguyễn Thị L cùng đồng phạm (chưa xác định được nhân thân, lai lịch) đã lợi dung sự sơ hở của bà NB trong việc quản lý tài sản đã lén lút thực hiện hành vi chiếm đoạt một mô tô nhãn hiệu Sirius biển số 67F1-030.83, giá trị tài sản chiếm đoạt là 8.000.000 (Tám triệu) đồng đã đủ yếu tố cấu thành tội trộm cắp tài sản, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Bản thân bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Do vậy, cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Tân Uyên truy tố bị cáo theo tội danh và điều khoản như trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến tài sản của người khác một cách trái pháp luật, gây mất trật tự xã hội tại địa phương. Bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật hình sự và sẽ bị trừng trị nhưng vì tư lợi nên bị cáo vẫn cố ý phạm tội và mong muốn chiếm đoạt được tài sản của người bị hại. Do đó, cần có mức hình phạt tương xứng với hành vi của bị cáo để răn đe giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội. Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt cần xem xét toàn diện về nhân thân, vai trò, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ đối với bị cáo.
Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu.
Về vai trò: Bị cáo Nguyễn Thị L tuy không trực tiếp thực hiện hành vi chiếm đọat tài sản nhưng khi đồng phạm (chưa xác định được rõ nhân thân, lai lịch) thực hiện hành vi chiếm đoạt, bị cáo trực tiếp chứng kiến, không có ý kiến phản đối và bị cáo trực tiếp điều khiển tài sản chiếm đoạt để tẩu thoát nên vai trò của bị cáo và đồng phạm là ngang nhau.
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, phạm tôi nhưng chưa gây thiệt hại vì tài sản đã được thu hồi và giao trả cho chủ sở hữu. Do đó, Hội đồng xét xử xem xét áp dụng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm h, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự khi quyết định hình phạt.
Mức hình phạt đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát tại phiên tòa đối với bị cáo là tương xứng với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện.
Đối với người thanh niên (không rõ tên và nhân thân lai lịch) có hành vi bẻ khóa xe mô tô nhãn hiệu Sirius, biển số 67F1 – 030.83 của bà NB rồi nhờ Nguyễn Thị L điều khiển xe này tẩu thoát. Do không rõ tên và nhân thân lai lịch của người này nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Tân Uyên tiếp tục điều tra, làm rõ xử lý sau là phù hợp.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không có yêu cầu khác nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp: Xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius màu đỏ, biển số 67F1-030.83 do ông Trần Văn Đ đứng tên đăng ký chủ sở hữu. Năm 2014, ông Đ bán xe này cho bà NB nhưng chưa làm thủ tục chuyển quyền sở hữu theo quy định. Ngày 16/9/2017, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Tân Uyên ra Quyết định xử lý vật chứng số 145 trả lại xe này cho bà Bích là phù hợp theo quy định tại Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBNTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào khoản 1 Điều 138 Bộ luật Hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009; Nghị quyết 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 về việc thi hành Bộ luật Hình sự số 100/2015/QH13, khoản 3 Điều 7, khoản 1 Điều 173, điểm h, điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 58 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 136, Điều 260, Điều 333 của 328 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
1. Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị L phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị L 09 (Chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án trừ thời gian tạm giữ từ 13/8/2017 đến ngày 21/8/2017.
3. Về trách nhiệm dân sự: Không đặt ra.
4. Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp: Không có.
5. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Thị L phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Dương; - VKSND tỉnh Bình Dương; - PV27, Công an tỉnh Bình Dương; - Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương; - VKSND thị xã Tân Uyên; - Công an thị xã Tân Uyên; - Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Tân Uyên; - Người tham gia tố tụng; - Lưu: VT, HS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đinh Thị Mộng Tuyết |