- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bạch V - phạm tội tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc (điều 249 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Bạch V phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 21 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ ĐỨC – TP. HÀ NỘI ––––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 35/2018/HS-ST Ngày 27-7-2018 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ ĐỨC – THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Đức Hiệp.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Cao Hoàng Dân.
Ông Phan Mạnh Tưởng.
- Thư ký phiên tòa: Bà Đinh Thị Thùy Linh – Thư ký Tòa án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Lan - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 7 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 39/2018/TLST-HS ngày 06 tháng 7 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 38/2018/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 7 năm 2018 đối với bị cáo:
Bạch V, sinh năm 1994 tại Thôn Đ, xã A, huyện M, thành phố Hà Nội; nơi đăng ký thường trú và nơi sinh sống: Thôn Đ, xã A, huyện M, thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bạch H và bà Nguyễn Thị T; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt, tạm giam từ ngày 13/4/2018 đến nay. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 16 giờ ngày 10/4/2018, Bạch V đi xe bus từ nhà đến khu vực L, Hà Nội, gặp một người nam giới không quen biết và mua một lượng ma túy đá với số tiền 800.000 đồng về sử dụng. Khoảng 01 giờ ngày 12/4/2018, V đến nhà nghỉ Q ở thôn T, xã H, huyện M thuê và ở lại tại phòng số 303. Tại đây, V chia số ma túy đã mua được thành 04 gói nhỏ, đã sử dụng hết 01 gói, 03 gói còn lại V cất vào túi áo khoác bên phải. Khoảng 22 giờ cùng ngày, Nguyễn Văn Q đang thuê ở phòng trọ số 302 bên cạnh gọi điện rủ V sang ngủ cùng. V mang theo cả số ma túy đến và ngủ cùng Q. Đến 10 giờ 30 phút ngày 13/4/2018 thì bị Công an huyện Mỹ Đức đến kiểm tra, phát hiện bắt giữ.
Tại kết luận giám số 3628/KLGĐ-PC54 ngày 20/4/2018 của Phòng Kỹ thuật Hình sự Công an thành phố Hà Nội kết luận: “Tinh thể màu trắng bên trong 03 túi nilông (thu giữ của Bạch V) là ma tuý loại Methaphetamine, có tổng khối lượng 0,307 gam”.
Cáo trạng số 40/CT-VKS-MĐ ngày 05/7/2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Đức truy tố Bạch V về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo Khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điểm s Khoản 1 Điều 51; Khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo từ 15 đến 18 tháng tù.
Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo là đối tượng nghiện hút, không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định nên đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung.
Về xử lý vật chứng: Đề nghị căn cứ các Điều 47, 48 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình, tịch thu tiêu hủy số ma túy thu giữ của bị cáo. Trả lại bị cáo 01 điện thoại di động Nokia 225.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử: Đã thực hiện theo quy định về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo và những có liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại. Có đủ căn cứ xác định, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng truy tố. Xét lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, lời khai người làm chứng, biên bản phạm pháp quả tang, vật chứng thu giữ, kết luận giám định và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở kết luận: Ngày 13/4/2018 Bạch V đã tàng trữ trái phép 0,307gam ma túy loại Methamphetamine để sử dụng.
Bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện, nên đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại Điểm c Khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Đức là có căn cứ, đúng pháp luật.
Tính chất hành vi bị cáo thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm hại tới chính sách độc quyền quản lý các chất ma tuý của Nhà nước, tác động xấu đến trật tự trị an của địa phương, nên cần thiết phải áp dụng hình phạt tù cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội.
Xem xét các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo thì thấy: Bạch V không có tình tiết tăng nặng; quá trình điều tra và tại phiên tòa đã thành khẩn khai báo nên được hưởng 01 tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại Điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo nghiện ma túy, không có công việc và thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung.
Về nguồn gốc ma túy: Do Bạch V không xác định được tên tuổi, địa chỉ của đối tượng cung cấp ma túy, nên Cơ quan điều tra không có cơ sở để xác minh làm rõ là có căn cứ.
Trong vụ án này, Nguyễn Văn Q ở cùng phòng với V, có mặt khi bắt
quả tang. Tuy nhiên Q không biết V tàng trữ ma tuý, nên Cơ quan điều tra không xử lý là đúng.
Đối với Đặng Đình Q là chủ nhà nghỉ và Nguyễn Thị M là người trông coi nhà nghỉ, khi phát hiện dấu hiệu phạm tội đã kịp thời trình báo nên Công an huyện Mỹ Đức không xử lý là phù hợp.
Về tang vật:
01 điện thoại di động Qmobile 113 thu giữ của Q và 01 điện thoại Nokia 225 thu giữ của V, không liên quan đến tội phạm nên Công an huyện Mỹ Đức trả lại điện thoại cho Q là có cơ sở, đối với 01 điện thoại thoại Nokia 225 màu trắng tuyên trả lại cho V.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điểm c Khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự, Điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
- Tuyên bố bị cáo Bạch V phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt Bạch V 15 (Mười lăm) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 13/4/2018.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
- Về xử lý vật chứng: Căn cứ các Điều 47, 48 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015, tịch thu tiêu hủy 0,307 gam ma túy loại Methampheamine thu giữ của bị cáo. Trả lại Bạch V 01 điện thoại thoại Nokia 225 màu trắng.
Tình trạng và đặc điểm vật chứng như Biên bản bàn giao vật chứng giữa Công an huyện Mỹ Đức và Chi cục thi hành án dân sự huyện Mỹ Đức.
Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự, Khoản 1 Điều 21, Điểm a Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
- Quyền kháng cáo: Căn cứ các Điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự, bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - VKSNDTP Hà Nội; - VKSND huyện Mỹ Đức; - Cơ quan CSĐT Công an huyện Mỹ Đức; - Chi cục THADS huyện Mỹ Đức; - Trại tạm giam số 2 Công an TP Hà Nội; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ; | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bùi Đức Hiệp |