- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp hôn nhân và gia đình, ly hôn và nuôi con chung"
- Tòa quyết gì? nhân và gia đình năm 2014 và các Điều 147, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; điểm a khoản 5 và điểm đ khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ p…
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 199 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH AN GIANG Bản án số: 35/2018/HNGĐ-ST Ngày: 11/9/2018 “V/v tranh chấp hôn nhân và gia đình ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kiều Nga.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Trần Thanh Huy;
2. Bà Huỳnh Ánh Linh.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Phát Huy, Thư ký Tòa án nhân dân
thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang
tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Thành Thái - Kiểm sát viên.
Ngày 11/9/2018, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Châu Đốc xét xử sơ
thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 326/2018/TLST - HN ngày
14 tháng 7 năm 2018 về “Tranh chấp hôn nhân và gia đình ly hôn” theo Quyết
định đưa vụ án ra xét xử số 115/2018/QĐXXST - HN ngày 13 tháng 8 năm
2018 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 56/2018/QĐHPT ngày 28/8/2018, giữa
các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị L, sinh năm: 1993.
Nơi cư trú: Số 536, tổ 11, ấp Mỹ Hò, xã Mỹ Đ, huyện Châu Ph, tỉnh An
Giang.
Bị đơn: Anh Nguyễn Thanh H, sinh năm: 1987.
Nơi cư trú: Tổ 09, ấp Mỹ P, xã Vĩnh Ch, thành phố Châu Đốc, tỉnh An
Giang.
Người làm chứng: Bà Nguyễn Thị Ha, sinh năm: 1955.
Nơi cư trú: Tổ 09, ấp Mỹ P, xã Vĩnh Ch, thành phố Châu Đốc, tỉnh An
Giang.
Chị Nguyễn Thị L có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt;
Anh Nguyễn Thanh H vắng mặt.
Bà Nguyễn Thị Ha có yêu cầu xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện ngày 04/7/2018 và các lời khai cung cấp trong quá
trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Nguyễn Thị L trình bày:
Chị (Nguyễn Thị L) và anh Nguyễn Thanh H tự tìm hiểu yêu thương nhau
và đi đến hôn nhân vào năm 2012, hôn nhân có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Vĩnh Châu, thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang ngày 14/4/2012. Cuộc sống không hạnh phúc do bất đồng quan điểm sống, anh Hải thường xuyên ăn nhậu rồi đánh đập chị, tiền lương của chị anh H nhận mà không đưa cho chị sử dụng. Hiện tại anh chị đã không còn sống chung với nhau từ hơn một năm. Nay tình cảm vợ chồng không còn, chị xin ly hôn Nguyễn Thanh H.
Về con chung: Chị (Lẻ) và anh Hải sống chung sanh 01 con chung tên:
Nguyễn Thị Kim Nga, sinh ngày 07/01/2013 hiện do anh H đang nuôi dạy.
Tài sản chung và nợ chung: Không có và không yêu cầu Tòa án giải
quyết.
Tòa án đã triệu tập anh Nguyễn Thanh H nhưng anh H không cung cấp ý
kiến và không đến Tòa án tham gia tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải nên không tiến hành hòa giải được.
Qua xác minh:
Công an xã Vĩnh Tế cung cấp: Anh Nguyễn Thanh H không có đăng ký
hộ khẩu thường trú tại tổ 09, ấp Mỹ Phú, xã Vĩnh Tế, thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang, tuy nhiên anh H chung sống cùng với mẹ ruột tên Nguyễn Thị Ha tại căn nhà ở tổ 9, ấp Mỹ Phú, xã Vĩnh Châu, thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang, hiện anh đi làm thuê, thỉnh thoảng có về địa phương sinh sống.
Ông Phạm Thanh Hu – Phó Ban ấp Mỹ Ph cung cấp: Anh Nguyễn
Thanh H có đăng ký hộ khẩu thường trú tại tổ 09, ấp Mỹ Phú, xã Vĩnh Tế, thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang, anh H chung sống cùng với mẹ ruột tên Nguyễn Thị Ha tại căn nhà ở tổ 09, ấp Mỹ Phú, xã Vĩnh Châu, thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang, hiện anh đi làm thuê, thỉnh thoảng anh có về địa phương vào dịp đám tiệc và tết cổ truyền
Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc tống đạt các văn bản tố tụng qua
người thân là bà Nguyễn Thị Ha (mẹ của anh Thanh Hải) và bà Hà có ký nhận qua trung gian các văn bản tố tụng của Tòa án: Thông báo thụ lý vụ án; Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Thông báo V/v thu thập tài liệu, chứng cứ; Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Quyết định hoãn phiên tòa, bà đã điện thoại thông báo cho anh Hải biết việc Lẻ kiện ly hôn nhưng theo bà Hà do anh Hải bận làm thuê nên không thể đến
Tòa án, ý kiến của Hải là đồng ý ly hôn nhưng Hải xin nuôi dạy con chung, mà
không yêu cầu Lẻ cấp dưỡng nuôi con chung.
Tại phiên toà, hội đồng xét xử công bố lời khai của chị Nguyễn Thị L và
bà Nguyễn Thị Ha.
Hội đồng xét xử công bố kết quả xác minh của Tòa án nhân dân thành
phố Châu Đốc do Công an xã Vĩnh Ch, thành phố Châu Đốc cung cấp; ý kiến
Ban ấp Mỹ Ph, xã Vĩnh Ch, thành phố Châu Đốc;
- Phát biểu của Kiểm sát viên:
Việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng dân sự trong
quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét
xử nghị án:
Đối với nguyên đơn: Chị L đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố
tụng của mình theo quy định tại Điều 70, 71 Bộ luật Tố tụng Dân sự;
Đối với bị đơn: Quá trình giải quyết vụ án, anh H không gửi bản tự khai,
chứng cứ cho Tòa án và không tham gia các phiên họp kiểm tra việc giao nộp,
tiếp cận, công khai chứng cứ và hoa giải, mặc dù Tòa án đã tống đạt các văn bản
tố tụng cho ông đúng theo quy định của pháp luật. Do đó, anh H đã không thực
hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại Điều 70, 72 Bộ luật tố
tụng dân sự.
Ý kiến về việc giải quyết vụ án:
Chị Nguyễn Thị L và anh Nguyễn Thanh H tự tìm hiểu đi đến hôn nhân
và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Vĩnh Châu, thành phố Châu Đốc,
tỉnh An Giang (số 15/2012 ngày 14/4/2012), xem đây là hôn nhân hợp pháp.
Cuộc sống chung phát sinh mâu thuẫn, không còn sống chung từ tháng 7/2016
đến nay. Do tình cảm không còn chị L xin ly hôn với anh Nguyễn Thanh H. Căn
cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 đề nghị Hội đồng xét xử chấp
nhận yêu cầu ly hôn của chị Lẻ.
Về con chung: Chị L và anh H sống chung sanh 01 con chung tên:
Nguyễn Thị Kim Nga, sinh ngày 07/01/2013, cháu Ngâ hiện do anh H đang nuôi
dạy. Cuộc sống cháu ổn định. Do đó, việc anh H yêu cầu tiếp tục được nuôi
dưỡng con chung là phù hợp.
Vể cấp dưỡng nuôi con chung: Do không làm việc được với anh H, chị L
đồng ý cấp dưỡng để anh H nuôi con chung, đây là quyền lợi của con nhằm bảo
đảm phần nào cuộc sống của con nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu
cầu của chị L theo quy định của pháp luật.
Về tài sản chung - nợ chung: Bà L khai không có tài sản chung, phù hợp
với lời khai của bà Ha, bà L không yêu cầu giải quyết nên không đề cập xem
xét.
Căn cứ các Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật Hôn nhân
và gia đình năm 2014. Đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lẻ.
Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, quyết định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về tố tụng:
Chị Nguyễn Thị L khởi kiện yêu cầu ly hôn với anh Nguyễn Thanh H.
Đồng thời, anh H cư trú trên địa bàn thành phố Châu Đốc. Xét, đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Về vắng mặt của đương sự:
Chị Nguyễn Thị L có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt. Anh Nguyễn Thanh H
được triệu tập hợp lệ đến lẩn thứ hai nhưng vắng mặt không lý do. Căn cứ Điều 199 Bộ luật tố tụng dân sự 2015, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt họ.
Về nội dung:
- Về quan hệ hôn nhân:
Năm 2012, chị L và anh H đi đến hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại Ủy
Ban nhân dân xã Vĩnh Ch, thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang vào ngày 14/4/2012, công nhận là hôn nhân hợp pháp.
Chứng cứ chị L đưa ra để yêu cầu ly hôn anh H là cuộc sống hôn nhân
không hạnh phúc, anh chị không còn sống chung từ hơn một năm nay. Tình cảm vợ chồng không còn và không thể hàn gắn, chị L xin ly hôn anh H.
Qua xác minh và được bà Nguyễn Thị Ha (mẹ của anh Nguyễn Thanh H
cung cấp), L và H kết hôn và sanh 01 con chung tên Nguyễn Thị Kim Nga, sinh ngày 07/01/2013 hiện do H đang nuôi dạy, hiện nay cả hai đã không còn sống chung với nhau; bà Hà cho biết H biết việc L xin ly hôn, H đồng ý ly hôn nhưng xin được nuôi con chung, không có yêu cầu L cấp dưỡng nuôi con chung; về tài sản chung – nợ chung, không có.
Khoản 2 Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình quy định: “Vợ chồng có
nghĩa vụ sống chung với nhau, trừ trường hợp vợ, chồng có thỏa thuận khác hoặc do yêu cầu của nghề nghiệp, công tác, học tập, tham gia các hoạt động chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và lý do chính đáng khác”; Xét thấy, chị L và anh H không còn sống chung thời gian dài là vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được nên chị L khởi kiện yêu cầu ly hôn với anh H là có căn cứ. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, quyết định.
[ Về con chung]:
Chị L và anh H sống chung sanh 01 con chung tên: Nguyễn Thị Kim Nga,
sinh ngày 07/01/2013 hiện do anh H đang nuôi dạy, chị đồng ý giao con chung
cho anh H nuôi dạy và sẽ cấp dưỡng cho anh H nuôi con chung theo pháp luật
quy định.
Xét, cháu Kim Nga hiện anh Hải đang nuôi dạy, cuộc sống cháu ổn định,
chị Lẻ không tranh chấp, nên tiếp tục giao cho anh H nuôi con chung.
Về mức cấp dưỡng, phương thức cấp dưỡng, thời gian cấp dưỡng:
Anh H không giao nộp bảng tự khai cho biết ý kiến về nuôi con chung,
qua xác minh được biết anh H đang ở chung với mẹ là bà Nguyễn Thị Ha, bà Ha
cho biết anh H không có yêu cầu L (con dâu) cấp dưỡng nuôi con chung. Do anh
H không có ý kiến về việc nuôi con và cấp dưỡng nuôi con chung, tuy nhiên để
đảm bảo quyền lợi cháu Nga cũng như trách nhiệm của người không nuôi con,
nên buộc chị L cấp dưỡng để anh H nuôi dạy con chung.
Để đảm bảo cuộc sống cho con chưa thành niên thì mức cấp dưỡng không
được dưới 1/2 mức lương tối thiểu do Nhà nước quy định. Tại thời điểm hiện
nay lương tối thiểu là 1.390.000đồng/tháng nên mức cấp dưỡng ít nhất phải là
695.000đồng/tháng và phương thức cấp dưỡng hàng tháng. Buộc chị L cấp
dưỡng để anh H nuôi con chung. Thời gian cấp dưỡng từ ngày 11 tháng 10 năm
2018 cho đến khi con thành niên và có khả năng lao động.
Anh Nguyễn Thanh H cùng các thành viên gia đình (nếu có) không được
cản trở chị Nguyễn Thị L trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục
con.
Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có
thẩm quyền, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc
cấp dưỡng nuôi con chung dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định.
[Về tài sản chung – nợ chung]:
Chị L khai không có, phù hợp lời khai của bà Hà (mẹ anh H), nên không
đề cập đến giải quyết (Nếu anh H có tranh chấp sẽ được giải quyết bằng vụ án
khác).
[Về án phí]:
Chị Nguyễn Thị L phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí hôn
nhân và gia đình sơ thẩm và 300.000 đồng án phí cấp dưỡng nhưng được khấu
trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí mà chị L đã nộp; chị L nộp thêm
300.000 đồng.
Anh Nguyễn Thanh H không phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ
thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 của Luật Hôn
nhân và gia đình năm 2014 và các Điều 147, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; điểm a khoản 5 và điểm đ khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;
1. [Về quan hệ hôn nhân]:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị L;
Chị Nguyễn Thị L được ly hôn anh Nguyễn Thanh H.
2. [Về con chung]:
Anh Nguyễn Thanh H tiếp tục nuôi dạy cháu: Nguyễn Thị Kim Nga, sinh
ngày 07/01/2013, chị L có nghĩa vụ cấp dưỡng mỗi tháng là 695.000 (sáu trăm, chín mươi lăm) đồng để anh H nuôi dạy con chung cho đến khi con thành niên và có khả năng lao động. Thời gian cấp dưỡng kể từ ngày 11/10/2018.
Anh Nguyễn Thanh H cùng các thành viên gia đình (nếu có) không được
cản trở chị Nguyễn Thị L trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có
thẩm quyền, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng nuôi con chung dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định.
3. [Về án phí sơ thẩm]:
Chị Nguyễn Thị L phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí hôn
nhân và gia đình sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí hôn nhân sơ thẩm đã nộp là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng theo biên lai số 0007452 ngày 04 tháng 7 năm 2018 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Châu Đốc; Chị Lẻ đã nộp đủ án phí hôn nhân và gia đình.
Chị Nguyễn Thị L phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí đối với
nghĩa vụ cấp dưỡng.
Anh Nguyễn Thanh H không phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ
thẩm.
Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, chị Nguyễn Thị L và anh Nguyễn
Thanh H có quyền kháng cáo để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2
Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
Nơi nhận:
- VKSND TP. Châu Đốc (2);
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa
- TAND tỉnh An Giang (1);
- Chi cục THADS TP.Châu Đốc (1);
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ (1);
- Lưu văn phòng (1).
Nguyễn Thị Kiều Nga
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - VKSND TP. Châu Đốc (2); - TAND tỉnh An Giang (1); - Chi cục THADS TP.Châu Đốc (1); - Các đương sự; - Lưu hồ sơ (1); - Lưu văn phòng (1). | Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thị Kiều Nga |