vanban.org

Bản án 35/2018/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Hoãn phiên toà xét xử sơ thẩm vụ án dân sự thụ lý số 56/2018/TLST-HNGĐ ngày 20/3/2018.

Phiên toà dân sự sơ thẩm sẽ được mở lại vào hồi 08 giờ ngày 25 tháng 7 năm 2018 tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh. Các đương sự; Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bản án Tranh chấp về ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Hoãn phiên toà xét xử sơ thẩm vụ án dân sự thụ lý số 56/2018/TLST-HNGĐ ngày 20/3/2018.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 235 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ CẨM PHẢ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH QUẢNG NINH
Bản án số: 35/2018/HNGĐ-ST
Ngày 25/7/2018
“V/v tranh chấp ly hôn và nuôi con chung”

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẨM PHẢ, TỈNH QUẢNG NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Duy Hải.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Thúy và ông Nguyễn Trọng Quý.

- Thư ký phiên toà: Bà Vũ Thị Loan - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Cẩm Phả.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả tham gia phiên tòa: Bà Phạm Bìch Hồng- Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 7 năm 2018 tại Hội trường xét xử, Toà án nhân dân thành phố Cẩm Phả xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 56/2018/TLST-HNGĐ ngày 20/3/2018 về việc “Tranh chấp ly hôn và nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 26/2018/QĐXX-ST ngày 15/6/2018, Quyết định hoãn phiên tòa số 18/2018/QĐST-DS ngày 04/7/2018 của Tòa án nhân dân thành phố Cẩm Phả, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị M – sinh năm 1982

Địa chỉ: Tổ 14, khu N, phường C, TP. Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh.

Tạm trú tại: thôn Kim Châm, xã Mỹ Đức, huyện An Lão, TP. Hải Phòng.

Có mặt tại phiên tòa.

- Bị đơn: Anh Lê Quang T – sinh năm 1975

Địa chỉ: Tổ 14 , khu N, phường C, TP. Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh, vắng mặt tại phiên tòa không có lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện xin ly hôn đề ngày 16/01/2018 cùng lời khai trong quá trính giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Nguyễn Thị M trính bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Lê Quang T kết hôn tự nguyện, có đăng ký kết hôn vào ngày 28/11/2008 tại Ủy ban nhân dân phường C, thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh. Trước khi kết hôn vợ chồng chị có thời gian tím hiểu nhau khoảng 06 tháng và chưa ai có vợ, có chồng. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc đến tháng 12/2014 thí phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do anh T ham chơi cờ bạc, không tu chì làm ăn, chị đã nhiều lần khuyên bảo nhưng anh T vẫn không thay đổi dẫn đến việc vợ chồng hay đánh cãi nhau. Ngoài ra chị còn có mâu thuẫn với em trai chồng là anh Lê Quang H, khi chị bị anh H đánh, anh T không can ngăn mà lại xông vào đánh và đuổi chị đi, dẫn đến mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng. Mặc dù vợ chồng chị cố gắng khắc phục và được tổ dân khu phố, hai bên gia đính hòa giải nhiều lần nhưng không có hiệu quả, anh T vẫn không thay đổi. Chị đã về nhà ngoại ở Hải Phòng sinh sống từ tháng 12/2014, từ đó đến nay không ai quan tâm đến ai. Nay xét thấy mâu thuẫn vợ chồng thực sự trầm trọng, cuộc sống chung không thể tiếp tục nên chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh T.

- Về con chung: Vợ chồng anh chị có 02 con là: cháu Lê Nguyễn Linh N- sinh ngày 07/10/2008 và cháu Lê Quang T - sinh ngày 05/11/2009 (cháu T bị khuyết tật bẩm sinh).

Chị đề nghị Tòa án giải quyết giao cho chị trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục cháu Lê Quang T, chị nhường quyền nuôi dưỡng cháu Lê Nguyễn Linh N cho anh T, chị không yêu cầu anh T phải cấp dưỡng nuôi con chung.

- Về tài sản chung và nợ chung: Vợ chồng anh chị không có tài sản chung, không có khoản nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa hôm nay chị M giữ nguyên quan điểm như trên.

*/ Bị đơn anh Lê Quang T trong quá trính giải quyết vụ án trính bày: Về điều kiện, hoàn cảnh kết hôn đúng như chị M đã trính bày. Vợ chồng anh chị chung sống hạnh phúc đến cuối năm 2014 thí xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân do chị M có mâu thuẫn với em trai anh là Lê Quang Hòa, chị M không lắng nghe để hòa giải dẫn đến mâu thuẫn xảy ra, chị M đã bỏ về nhà ngoại sống từ cuối năm 2014 đến nay. Anh đã đến tím chị M để hàn gắn đoàn tụ nuôi dạy con cái nhưng chị M không về. Nay chị M có đơn xin ly hôn, anh thấy tính cảm vợ chồng vẫn còn nên xin được đoàn tụ cùng nhau nuôi dạy con cái. Nhưng nếu chị M vẫn cương quyết ly hôn thí anh cũng đồng ý.

Về con chung: Anh chị có hai người con chung như chị M đã trính bày, nay nếu phải ly hôn anh đề nghị Tòa án giải quyết giao cho anh được trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục cháu Ngọc, anh đồng ý giao cho chị M nuôi dưỡng cháu Tương và hai bên không ai phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung.

Về tài sản chung và nợ chung: Anh chị không có tài sản chung, không vay nợ chung cá nhân hay tổ chức nào, anh không đề nghị Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa hôm nay anh T vắng mặt nên không có lời khai.

Tòa án đã tiến hành xác minh tại địa phương nơi anh T, chị M đã chung sống (tổ 14, khu Ngô Quyền, phường Cẩm Đông), đại diện là ông Trần Xuân H– Khu phó khu N xác nhận: Chị Nguyễn Thị M và anh Lê Quang T có cư trú tại tổ 14, khu N, phường C, TP. Cẩm Phả. Trong quá trính chung sống có xảy ra mâu thuẫn, tổ dân khu phố đã nhiều lần mời anh Tuấn đến để hòa giải, nhưng anh T cố tính không tới, sau đó chị M đã chuyển về nhà ngoại ở Hải Phòng sinh sống từ cuối năm 2014. Nay chị M có đơn xin ly hôn, tổ dân khu phố có quan điểm yêu cầu Tòa án giải quyết theo pháp luật.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã tiến hành đúng các thủ tục tố tụng; Nguyên đơn đã thực hiện quyền và nghĩa vụ của mính theo đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự, bị đơn chưa thực hiện quyền và nghĩa vụ của mính theo đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

- Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Tòa chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị M.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa; ý kiến của đương sự và đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định.

Về tố tụng: Tại phiên tòa ngày 04/7/2018 anh T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do. Tại phiên toà hôm nay anh T cũng đã được triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Do bị đơn đã được triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt không có lý do, ví vậy căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử (HĐXX) vẫn tiến hành xét xử vụ án khi vắng mặt bị đơn.

Về nội dung:

- Về quan hệ hôn nhân: Tại phiên tòa, chị M khẳng định tính cảm giữa chị và anh T thực sự không thể hàn gắn được, hai bên đã sống ly thân từ tháng 12/2014 đến nay, mục đìch hôn nhân không đạt được. HĐXX đã phân tìch để chị M quay về đoàn tụ với anh T, nhưng chị M vẫn kiên quyết xin ly hôn với anh T.

HĐXX xét thấy, chị M và anh T kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật công nhận và bảo vệ. Tuy nhiên sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian thí mâu thuẫn đã xảy ra, nguyên nhân do anh T mải chơi, không tu chì làm ăn, từ đó vợ chồng hay xảy ra cãi vã, xô sát, mặt khác khi chị M có mâu thuẫn với em trai anh T thí anh T không can ngăn mà còn đánh đuổi chị M dẫn đến mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng. Mặc dù anh T không đồng ý ly hôn, anh muốn vợ chồng được đoàn tụ để nuôi dạy con cái, nhưng khoảng thời gian ly thân từ tháng 12/2014 đến nay là rất dài nhưng anh T không có biện pháp nào để hàn gắn tính cảm với chị M, chị M vẫn cương quyết xin ly hôn, từ đó thấy rằng tính trạng vợ chồng giữa chị M và anh T đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể tiếp tục, mục đìch hôn nhân không đạt được. Ví vậy, yêu cầu xin ly hôn của chị M là có cơ sở phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân gia đính nên được chấp nhận.

- Về con chung: Trong thời gian chung sống chị M và anh T có hai con chung là cháu Lê Nguyễn Linh N- sinh ngày 07/10/2008 hiện đang sống cùng anh T và cháu Lê Quang T - sinh ngày 05/11/2009 hiện đang sống cùng chị M. Chị M đề nghị Tòa án giải quyết giao cho chị trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục cháu Lê Quang T, chị nhường quyền nuôi dưỡng cháu Lê Nguyễn Linh N cho anh T, chị không yêu cầu anh T phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Trong quá trính giải quyết vụ án, anh T có lời khai nếu phải ly hôn anh đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục cháu N, anh đồng ý giao cho chị M nuôi dưỡng cháu T và hai bên không ai phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung.

Tòa án đã tiến hành lấy lời khai của cháu Lê Nguyễn Linh N, cháu xin được ở cùng bố nếu bố mẹ cháu ly hôn. Cháu Lê Quang T hiện nay bị khuyết tật vận động thần kinh mức độ nặng nên không lấy được lời khai.

HĐXX thấy rằng, cả hai đương sự đều thống nhất việc nuôi con chung phù hợp với khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đính, do vậy cần chấp nhận yêu cầu nuôi con chung của chị M.

- Về tài sản chung và nợ chung: Nguyên đơn và bị đơn không có tài sản chung, không vay nợ chung cá nhân hay tổ chức nào, không ai đề nghị Tòa án giải quyết, do vậy Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

- Về án phí: Chị M phải nộp án phì ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì những lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

- Khoản 1 Điều 28; khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228; khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;

- Khoản 1 Điều 56; Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đính;

- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về việc hướng dẫn áp dụng một số quy định về pháp luật về án phì, lệ phì Tòa án.

Tuyên xử:

1/ Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Nguyễn Thị M và anh Lê Quang T.

2/ Về nuôi con chung: Giao cháu Lê Quang T- sinh ngày 05/11/2009 cho chị M trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi cháu T tròn mười tám tuổi và không còn tính trạng khuyết tật nữa; Giao cháu Lê Nguyễn Linh N- sinh 07/10/2008 cho anh T trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục đến khi tròn mười tám tuổi. Chị M, anh T không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Chị M, anh T có quyền thăm nom con chung chung không ai được cản trở.

3/ Về tài sản chung và các khoản vay, nợ chung: Không xem xét, giải quyết.

4/ Về án phì: Chị Nguyễn Thị M phải nộp 300.000đ (Ba trăm nghín đồng) án phì ly hôn sơ thẩm (Chị M đã nộp tạm ứng án phì theo biên lai thu số 0009887 ngày 13/3/2018 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Cẩm Phả).

Nguyên đơn chị Nguyễn Thị M có quyền làm đơn kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn anh Lê Quang T vắng mặt có quyền làm đơn kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được án án, hoặc bản án được niêm yết. Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- Các đương sự;

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

- VKSND TP. Cẩm Phả;

- TAND tỉnh Quảng Ninh;

- Chi cục THA dân sự TP. Cẩm Phả;

- UBND phường Cẩm Đông, TP. Cẩm Phả;

- Lưu hồ sơ; án văn;

Phạm Duy Hải TOÀ ÁN NHÂN DÂN

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM THÀNH PHỐ CẨM PHẢ

Độc lập - Tự do -Hạnh phúc TỈNH QUẢNG NINH

BIÊN BẢN NGHỊ ÁN

Vào hồi 09 giờ 20 phút, ngày 25 tháng 7 năm 2018

Tại Hội trường xét xử Toà án nhân dân thành phố Cẩm Phả.

Với Hội đồng xét xử sơ thẩm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Duy hải.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Thúy và ông Nguyễn trọng Quý.

Tiến hành nghị án vụ án dân sự thụ lý số 56/2018/TLST-HNGĐ ngày 20/3/2018 về việc “Tranh chấp về hôn nhân và gia đình” giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị M – sinh năm 1982

2. Bị đơn: Anh Lê Quang T – sinh năm 1975

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, các quy định của pháp luật.

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẢO LUẬN, BIỂU QUYẾT,

QUYẾT ĐỊNH CÁC VẤN ĐỀ CỦA VỤ ÁN NHƢ SAU

1/ Về điều luật áp dụng:

Khoản 1 Điều 28; khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228; khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Khoản 1 Điều 56; Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đính; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về việc hướng dẫn áp dụng một số quy định về pháp luật về án phì, lệ phì Tòa án.

Kết quả biểu quyết: 3/3

2/ Các vấn đề cần giải quyết trong vụ án:

2.1. Chấp nhận đơn khởi kiện xin ly hôn của chị Nguyễn Thị M

2.2. Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Nguyễn Thị M và anh Lê Quang T.

2.3. Về nuôi con chung: Giao cháu Lê Quang Tương- sinh ngày 05/11/2008 cho chị M trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi cháu Tương tròn mười tám tuổi và không còn tính trạng khuyết tật nữa; Giao cháu Lê Nguyễn Linh Ngọc- sinh 07/10/2009 cho anh T trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục đến khi tròn mười tám tuổi. Chị M, anh T không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Chị M, anh T có quyền thăm nom con chung chung không ai được cản trở.

2.4. Về tài sản chung và nợ chung: Không xem xét, giải quyết.

2.5. Về án phì: Chị Nguyễn Thị M phải nộp 300.000đ (Ba trăm nghín đồng) án phì ly hôn sơ thẩm (Chị M đã nộp tạm ứng án phì theo biên lai thu số 0009887 ngày 13/3/2018 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Cẩm Phả).

Nguyên đơn có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt có quyền làm đơn kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được án án, hoặc bản án được niêm yết.

Kết quả biểu quyết: 3/3

Nghị án kết thúc vào hồi 09 giờ 35 phút, ngày 25 tháng 7 năm 2018.

Biên bản nghị án đã được đọc lại cho tất cả thành viên Hội đồng xét xử cùng nghe và ký tên dưới đây. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Duy Hải TOÀ ÁN NHÂN DÂN

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM THÀNH PHỐ CẨM PHẢ

Độc lập - Tự do -Hạnh phúc TỈNH QUẢNG NINH Số: 18 /2018/QĐST-HNGĐ

Cẩm Phả, ngày 04 tháng 7 năm 2018.

QUYẾT ĐỊNH

HOÃN PHIÊN TÒA

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẨM PHẢ, TỈNH QUẢNG NINH

-Với Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Duy Hải.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Thúy và ông Nguyễn Trọng Quý.

-Thư ký phiên toà: Bà Vũ Thị Loan - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Cẩm Phả.

-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả tham gia phiên tòa: Bà Phạm Bìch Hồng – Kiểm sát viên.

Đã tiến hành mở phiên toà sơ thẩm xét xử vụ án dân sự thụ lý số: 56/2018/TLST-HNGĐ ngày 20/3/2018 về việc “Tranh chấp về hôn nhân và gia đình” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 26/2018/QĐXXST-HNGĐ ngày 15/6/2018.

Xét thấy: Bị đơn đã được Toà án triệu tập hợp lệ mà vắng mặt tại phiên toà lần thứ nhất không có lý do.

Căn cứ vào các điều khoản 1 Điều 227 và Điều 233, 235 của Bộ luật tố tụng dân sự;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Hoãn phiên toà xét xử sơ thẩm vụ án dân sự thụ lý số 56/2018/TLST-HNGĐ ngày 20/3/2018.

2. Phiên toà dân sự sơ thẩm sẽ được mở lại vào hồi 08 giờ ngày 25 tháng 7 năm 2018 tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh.

Cỡ chữ