- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vụ án HNGĐ thụ lý số 91/2018/HNGĐ-St ngày 16/5/2018"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: chị Phạm Thị S được ly hôn anh Phạm Quang Q.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGA SƠN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Tỉnh Thanh Hóa Bản án số: 35/2018/HNGĐ-ST Ngày 17/7/2018 V/v: “Ly hôn” |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGA SƠN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Ngân.
Các Hội thẩm nhân dân: l.Ông Đỗ Xuân Thái
2.Bà Dương Thị Thắm
-Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Thư - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Nga Sơn. Ngày 17/7/2018. Tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Nga Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số:91/2018/TLST - HNGĐ ngày 16/5/2018 về: “ Ly hôn”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số:37/2018/QĐXX-ST ngày 02 tháng 7 năm 2018 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Phạm Thị S – sinh năm 1971; địa chỉ: Xóm 7, xã Th, huyện N, tỉnh Thanh Hóa.
2. Bị đơn: Anh Phạm Quang Q – sinh năm 1968; địa chỉ: Xóm 7, xã Th, huyện N, tỉnh Thanh Hóa. Phiên tòa vắng mặt các đương sự, các đương sự đã có đơn xin xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và bản tự khai của chị S thì chị và anh Q chung sống với nhau từ ngày 01/01/1988, đến ngày 16/12/2016, UBND xã Th cấp giấy chúng nhận kết hôn. Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến đầu năm 2015 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do anh Q hay rượu chè, thường xuyên đánh đập vợ con. Hai bên tự ly thân và không còn quan tâm gì đến nhau nữa, nay chị xét thấy tình cảm vợ chồng không còn chị yêu cầu được ly hôn, anh Q không nhất trí.
Về con: vợ chồng có 02 con chung là Phạm Quang Qu – sinh ngày 12/5/1990; Phạm Quang Gi – sinh ngày 23/7/1996. Hiện tại 02 cháu đã trên 18 tuổi, các cháu ở với ai là quyền các cháu, hai bên đương sự không có yêu cầu gì thêm. Về tài sản: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ được thẩm tra tại phiên tòa Hội đồng xét xử nhận định: [1] Về hôn nhân: Chị S và anh Q kết hôn với nhau như trình bầy ở phần trên là hôn nhân hợp pháp. Vợ chồng phát sinh mâu thuẫn là do anh Q hay rượu chè, chửi bới, đánh đập chị S, nay chị S xin được ly hôn, anh Q không nhất trí. Hội đồng xét xử xét thấy việc không đồng ý ly hôn của anh Q chỉ gây khó khăn cho chị S, thực tế hai bên đương sự đã tự ly thân, mỗi người đã có một cuộc sống riêng, không ai quan tâm đến ai, anh Q cũng không yêu cầu đoàn tụ, như vậy việc chị S yêu cầu được ly hôn là chính đáng. Cuộc sống vợ chồng chị S, anh Q đã đến lúc trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó cần xử để chị S được ly hôn anh Q là phù hợp với thực tế và phù hợp với pháp luật. [2] Tại phiên tòa hôm nay, các đương sự chị S, anh Q vắng mặt, nhưng chị S, anh Q đều có đơn xin xử vắng mặt, nên cần xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định tại khoản 1 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự là phù hơp.
Về án phí: chị S phải chịu án phí theo qui định của pháp luật.
Vì các lẽ trên
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 1 Điều 24; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/UBTVQH14, ngày 30/12/2016, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Về hôn nhân: chị Phạm Thị S được ly hôn anh Phạm Quang Q.
2.Về án phí: chị S phải chịu 300.000đ tiền án phí dân sự sơ thẩm. Nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí theo biên lai số: 0002760 ngày 15/5/2018 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Nga Sơn, chị S đã nộp đủ tiền án phí dân sự sơ thẩm.
Chị S, anh Q có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận hoặc niêm yết bản án.
| Nơi nhận - TAND tỉnh Thanh Hóa; - VKSND huyện Nga Sơn; - Các đương sự; - CC thi hành án dân sự; - UBND xã Th; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Đỗ Thị Ngân |