- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng đặt cọc — án dân sự — "Nguyễn Văn H - Phạm Nguyễn Ánh H1"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện “tranh chấp hợp đồng dân sự (đặt cọc)” của ông Nguyễn Văn H đối với bà Phạm Nguyễn Ánh H1.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 161 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DẦU TIẾNG TỈNH BÌNH DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 35/2018/DS-ST Ngày: 28-8-2018 V/v tranh chấp hợp đồng dân sự (đặt cọc) |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DẦU TIẾNG
TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên Tòa: Bà Đặng Thị Thùy Linh
Các Hội thẩm nhân dân:
1/ Ông Trương Hữu Bình;
2/ Bà Nguyễn Thị Thu Thu.
- Thư ký phiên tòa: Ông Văn Quang Bảo – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Quang Thịnh- Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 8 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 443/2017/TLST-DS ngày 23 tháng 11 năm 2017 về việc “Tranh chấp hợp đồng dân sự (đặt cọc)”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 46/2018/QĐXXST-DS ngày 17 tháng 7 năm 2018 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1982
Địa chỉ: Ấp I, xã O, huyện P, tỉnh Bình Dương.
2. Bị đơn: Bà Phạm Nguyễn Ánh H1, sinh năm 1974
Địa chỉ: Tổ 7, ấp A, xã B, huyện C, tỉnh Bình Dương.
Nguyên đơn có mặt tại phiên tòa, bị đơn vắng mặt lần thứ hai không lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện ngày 22 tháng 11 năm 2017, trong quá trình tham gia tố tụng và tại phiên tòa, nguyên đơn (ông H) trình bày:
Vào ngày 07/11/2017 ông H có nhận chuyển nhượng của bà Phạm Nguyễn Ánh H1 hai khu đất như sau:
- 01 khu đất có diện tích 9045,3m2 thuộc thửa 106, tờ bản đồ số 41, tọa lạc tại ấp A, xã B, huyện C, tỉnh Bình Dương do Ủy ban nhân dân huyện C cấp cho bà Phạm Nguyễn Ánh H1 ngày 13/8/2015.
- 01 khu đất có diện tích 5.241m2 thuộc thửa 615, 229, 233, tờ bản đồ số 41, tọa lạc tại ấp A, xã B, huyện C, tỉnh Bình Dương do Ủy ban nhân dân huyện C cấp cho bà Phạm Nguyễn Ánh H1 ngày 10/8/2009.
Hai bên thỏa thuận giá trị chuyển nhượng hai khu đất là 980.000.000 đồng bao gồm nhà, trại heo và vật dụng nuôi heo, điện nước, cao su, vườn tràm… Ông H đặt cọc cho bà H1 vào ngày 07/11/2017 với số tiền là 150.000.000 đồng. Số tiền còn lại hẹn đến ngày 22/12/2017 khi làm giấy chứng nhận quyền sử dụng đất sẽ thanh toán. Sau khi đặt cọc thì ông H tiến hành làm thủ tục đo đạc nhưng bà H1 không có mặt để làm thủ tục và không liên hệ được cho đến nay. Do đó ông H khởi kiện.
Nay ông H yêu cầu hủy hợp đồng đặt cọc ngày 07/11/2017 giữa ông H và bà H1. Đồng thời ông H yêu cầu bà H1 trả lại tiền cọc là 150.000.000 đồng.
Ông H thống nhất với kết quả giám định số 163/GĐ-PC54 ngày 08/6/2018 của Phòng kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh Bình Dương.
Ngoài ra, ông H không có ý kiến gì khác.
* Bị đơn bà Phạm Nguyễn Ánh H1:
Trong quá trình tố tụng để giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành tống đạt các văn bản tố tụng và các tài liệu, chứng cứ theo quy định pháp luật để báo cho bà H1 biết và thực hiện quyền, nghĩa vụ của mình nhưng bà H1 vẫn vắng mặt không có lý do.
* Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên:
- Việc tuân theo pháp luật trong thời gian chuẩn bị xét xử: Thẩm phán được phân công thụ lý và giải quyết vụ án đã thực hiện đúng, đầy đủ theo quy của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
- Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, Thư ký tại phiên tòa: Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 về việc xét xử sơ thẩm vụ án.
- Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Bị đơn không thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
- Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Quan hệ pháp luật của vụ án là “tranh chấp hợp đồng dân sự (đặt cọc)”. Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ được Hội đồng xét xử xem xét và kết quả tranh luận tại phiên tòa cho thấy yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có cơ sở chấp nhận.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Từ những tài liệu chứng cứ đã thu thập có trong hồ sơ, sau khi nghe lời trình bày của nguyên đơn, Hội đồng xét xử thấy rằng:
Ngày 22/11/2017 ông Nguyễn Văn H khởi kiện yêu cầu bà Phạm Nguyễn Ánh H1 thanh toán số tiền đặt cọc là 150.000.000 đồng theo giấy hợp đồng đặt cọc mua bán đất ngày 07/11/2017. Do đó, quan hệ tranh chấp của vụ án là “tranh chấp hợp đồng dân sự (đặt cọc)” theo quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bà H1 có nơi cư trú tại ấp A, xã B, huyện C, tỉnh Bình Dương. Nên vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân huyện C theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Ngày 07/11/2017 ông H có nhận chuyển nhượng của bà Phạm Nguyễn Ánh H1 hai phần đất: Một khu đất có diện tích 9045,3m2 thuộc thửa 106, tờ bản đồ số 41, tọa lạc tại ấp A, xã B, huyện C, tỉnh Bình Dương do Ủy ban nhân dân huyện C cấp cho bà Phạm Nguyễn Ánh H1 ngày 13/8/2015 và một phần đất có diện tích 5.241m2 thuộc thửa 615, 229, 233, tờ bản đồ số 41, tọa lạc tại ấp A, xã B, huyện C, tỉnh Bình Dương do Ủy ban nhân dân huyện C cấp cho bà Phạm Nguyễn Ánh H1 ngày 10/8/2009. Hai bên thỏa thuận giá trị chuyển nhượng hai phần đất là 980.000.000 đồng bao gồm nhà, trại heo và vật dụng nuôi heo, điện nước, cao su, vườn tràm… Ông H đặt cọc vào ngày 07/11/2017 với số tiền là 150.000.000 đồng. Số tiền còn lại hẹn đến ngày 22/12/2017 khi làm giấy chứng nhận quyền sử dụng đất sẽ thanh toán. Sau khi đặt cọc thì ông H tiến hành làm thủ tục đo đạc nhưng bà H1 không có mặt để làm thủ tục và không liên hệ được cho đến nay. Do đó, ông H khởi kiện yêu cầu hủy hợp đồng đặt cọc ngày 07/11/2017 giữa ông H và bà H1 và yêu cầu bà H1 trả lại tiền cọc là 150.000.000 đồng.
Hội đồng xét xử xét thấy: Ông H cung cấp chứng cứ là hợp đồng đặt cọc mua bán đất là bản chính. Tòa án đã tiến hành triệu tập bà H1 nhiều lần để đến Tòa án giải quyết nhưng bà H1 vẫn không có mặt. Do đó, ông H đã yêu cầu Tòa án trưng cầu giám định chữ ký, chữ viết của bà H1. Theo kết quả giám định số 163/GĐ-PC54 ngày 08/6/2018 của Phòng kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh Bình Dương kết luận như sau: Chữ viết họ tên “Phạm Nguyễn Ánh H1” dưới mục “bên A” trên một “hợp đồng đặt cọc mua bán đất” đề ngày 07/11/2017 so với chữ viết họ tên của Phạm Nguyễn Ánh H1 trên các tài liệu mẫu do cùng một người viết ra. Như vậy có cơ sở kết luận chứng cứ ông H cung cấp có giá trị chứng minh.
Ngày 07/11/2017 ông H đặt cọc cho bà H1 150.000.000 đồng để nhằm mục đích chuyển nhượng hai phần đất. Thế nhưng sau khi đặt cọc xong ông H tiến hành đo đạc để làm thủ tục chuyển nhượng, nhưng bà H1 không có mặt. Đồng thời từ khi Tòa án thụ lý, giải quyết vụ án thì bà H1 vẫn không có mặt để trình bày ý kiến của mình về việc ông H yêu cầu hủy hợp đồng đặt cọc và yêu cầu trả lại tiền cọc do bà H1 không thực hiện đúng theo thỏa thuận. Điều này thể hiện bà H1 từ chối giao kết hợp đồng chuyển nhượng. Do đó, ông H khởi kiện yêu cầu hủy hợp đồng đặt cọc ngày 07/11/2017 và yêu cầu bà H1 thanh toán tiền cọc150.000.000 đồng là phù hợp nên chấp nhận.
Ông H không yêu cầu phạt cọc nên không xem xét.
Chi phí giám định: 765.000 đồng ông H đã nộp. Bà H1 có trách nhiệm nộp hoàn trả cho ông H.
Án phí dân sự sơ thẩm: Bị đơn bà Phạm Nguyễn Ánh H1 phải chịu án phí đối với số tiền phải trả cho nguyên đơn ông Nguyễn Văn H.
Quan điểm của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Dầu Tiếng là phù hợp, được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Các Điều 26, 35, 39, 147, 161, 266, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- Điều 328, 427 Bộ luật Dân sự năm 2015.
- Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện “tranh chấp hợp đồng dân sự (đặt cọc)” của ông Nguyễn Văn H đối với bà Phạm Nguyễn Ánh H1.
Hủy hợp đồng đặt cọc mua bán đất ngày 07/11/2017 giữ ông Nguyễn Văn H và bà Phạm Nguyễn Ánh H1.
Buộc bà Phạm Nguyễn Ánh H1 có trách nhiệm trả cho ông Nguyễn Văn H 150.000.000 đồng (một trăm năm mươi triệu đồng).
Khi án có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày ông Nguyễn Văn H có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bà Phạm Nguyễn Ánh H1 không thanh toán số tiền trên, thì hàng tháng bà H1 còn phải chịu tiền lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015 tương ứng với số tiền và thời gian chưa thi hành án.
2. Án phí dân sự sơ thẩm:
- Bà Phạm Nguyễn Ánh H1 phải chịu 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng).
- Hoàn trả cho ông Nguyễn Văn H 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số AA/2016/0011113 ngày 22 tháng 11 năm 2017 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện C, tỉnh Bình Dương.
3. Chi phí giám định: 765.000 đồng (bảy trăm sáu mươi lăm ngàn đồng) ông H đã nộp. Bà H1 có trách nhiệm nộp hoàn trả cho ông H.
Trường hợp bản án được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (28/8/2018). Bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Dương; - VKSND huyện Dầu Tiếng; - CCTHA DS huyện Dầu Tiếng; - Các đương sự; - Lưu: Hồ sơ, văn thư. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đặng Thị Thùy Linh |