| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHƢỚC TỈNH TIỀN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| ---------- Án số: 35/2018/DS-ST Ngày: 25/5/2018 V/v tranh chấp: “H p đ ng mua bán tài sản” - Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Chí Khanh Các hội thẩm nhân dân: : Bà Trần Thị Thu Thảo - Thư ký phiên tòa: Ông Thạch Hải Âu – Thư ký Tòa án. phiên tòa. 08/5/2018 giữa các đương sự: 1. Nguyên đơn: Trần Văn T, sinh năm: 1947 Cùng địa chỉ: ấp L, xã M, huyện T, tỉnh Tiền Giang. 2. Bị đơn: Nguyễn Văn Tr, sinh năm 1976. Lê Thị Cẩm N, sinh năm: 1975 Cùng địa chỉ: ấp A, xã T, huyện T, tỉnh Tiền Giang. 3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Lê Văn Th, sinh năm: 1965 Địa chỉ: ấp C, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang. Đặng Văn R, sinh năm: 1966 Địa chỉ: ấp B, xã M, thị xã C, tỉnh Tiền Giang. - Ông T và bà S có m t tại phiên tòa. hai l n. - Ông Th và ông R có đơn đề nghị xét xử v ng m t. | Trong ngày 25 tháng 5 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân số 170/2017/TLST-DS ngày 17 tháng 10 năm 2017 về việc tranh chấp “H p |
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Tại Đơn khởi kiện, T tự khai cùng ngày 11/10/2017 nguyên đơn ông
Tr n Văn T và bà Nguyễn Thị S xác định: Vào ngày 09/9/2014 v ch ng tôi có
bán cho v ch ng anh Nguyễn Văn Tr và chị Lê Thị Cẩm N toàn bộ số cây tràm
tr ng trên diện tích đất khoảng 50.000m2 của chúng tôi tọa lạc tại xã M, huyện T
với giá thỏa thu n là 70.000.000 đ ng và cho v ch ng anh Tr thuê 50.000m2
đất này của chúng tôi th i hạn là 06 năm 06 tháng (từ ngày 09/9/2014 đến 01/01/2021) để v ch ng anh Tr lên líp tr ng
khóm.
Giá
thuê
là 120.000.000đ ng. Tổng cộng tiền mua tràm trên đất và thuê đất là 190.000.000đ ng. Việc mua bán tràm và cho thuê đất hai bên có làm h p đ ng bằng giấy tay và có ký tên. Theo thỏa thu n trong h p đ ng mua bán và thuê đất thì phía v ch ng anh Tr thanh toán cho chúng tôi số tiền 190.000.000đ ng làm 03 l n như sau:
L n 1: Ngày 23/9/2014 thanh toán 30.000.000đ ng.
L n 2: Ngày 23/12/2014 thanh toán 70.000.000đ ng.
L n 3: Ngày 23/02/2015 thanh toán 90.000.000đ ng.
Sau khi ký kết h p đ ng v ch ng anh Tr đã khai thác toàn bộ số cây tràm
có trên diện tích đất 50.000m2 của chúng tôi (khai thác tr ng). Đến hạn thanh toán tiền theo thỏa thu n l n 1 v ch ng anh Tr cũng không có trả tiền. Đến ngày 22/10/2014 v ch ng anh Tr có trả cho tôi đư c 20.000.000 đ ng tiền mua tràm. Đ ng th i do không canh tác nổi nên v ch ng anh Tr có thỏa thu n với chúng tôi là để v ch ng anh Tr giới thiệu ngư i khác thuê đất của chúng tôi với giá là 130.000.000đ ng và v ch ng anh Tr đã giới thiệu ông Lê Văn Th và Đ ng Văn R thuê lại 50.000m2 đất của v ch ng tôi với giá là 130.000.000đ ng, đã giao tiền đủ. Tổng cộng v ch ng tôi đã nh n tiền thuê đất và tiền bán tràm là 150.000.000đ ng. Như v y v ch ng anh Tr còn n lại v ch ng tôi số tiền là 40.000.000đ ng đến nay vẫn không trả.
Nay chúng yêu c u Tòa án giải quyết buộc anh Nguyễn Văn Tr và chị Lê
Thị Cẩm N phải trả cho v ch ng tôi số tiền là 40.000.000đ ng và tiền lãi từ ngày n cuối cùng 23/02/2015 đến ngày xét xử theo mức lãi suất pháp lu t qui định, yêu c u trả một l n ngay khi án có hiệu lực pháp lu t.
- Bị đơn anh Nguyễn Văn Tr và chị Lê Thị Cẩm N đã đư c Tòa án thông
báo về yêu c u khởi kiện của nguyên đơn ông T, bà S và đã đư c triệu t p h p lệ hai l n để hòa giải nhưng anh Tr và chị N vẫn v ng m t hai l n không có lý do và không có ý kiến trình bày đối với yêu c u khởi kiện của nguyên đơn.
- Tại t tự khai ngày 20/11/2017 ngư i có quyền l i, nghĩa vụ liên quan
ông Lê Văn Th trình bày: Vào ngày 01/01/2015 v ch ng ông Tr n Văn T có cho tôi thuê diện tích đất là 10.000m2 tại xã M, huyện T của v ch ng ông với giá thuê là 29.000.000đ ng, th i hạn thuê là 06 năm tính từ ngày thuê đến 01/01/2021. Hai bên có làm h p đ ng bằng giấy tay, tôi đã giao đủ tiền cho ông T nh n và đã nh n đất canh tác cho đến nay, không có tranh chấp. Việc thuê đất do ông Tr giới thiệu. Nay v ch ng ông T kiện v ch ng anh Tr yêu c u trả tiền mua tràm còn thiếu 40.000.000đ ng là đúng sự th t và tôi cũng không có ý kiến tranh chấp gì trong vụ án này, vì lúc nh n đất là đất trống do anh Tr đã khai thác tràm xong.
Ngày 20/11/2017 ông Lê văn Th có đơn yêu c u giải quyết v ng m t.
- Tại t tự khai ngày 25/11/2017 ngư i có quyền l i, nghĩa vụ liên quan
ông Đ ng Văn R trình bày: Vào ngày 22/10/2014 v ch ng ông Tr n Văn T có cho tôi thuê diện tích đất là 40.000m2 tại xã M, huyện T của v ch ng ông với giá thuê là 100.000.000đ ng, th i hạn thuê là 06 năm (từ ngày 22/10/2014 đến 01/01/2021). Hai bên có làm h p đ ng bằng giấy tay, tôi đã giao đủ tiền cho ông T nh n và đã nh n đất canh tác cho đến nay, không có tranh chấp. Việc thuê đất do ông Tr giới thiệu. Nay v ch ng ông T kiện v ch ng anh Tr yêu c u trả tiền
mua tràm còn thiếu 40.000.000đ ng là đúng sự th t và tôi cũng không có ý
kiến tranh chấp gì trong vụ án này, vì lúc nh n đất là đất trống do anh Tr đã khai
thác tràm xong.
Ngày 25/11/2017 ông Đ ng Văn R có đơn yêu c u giải quyết v ng m t.
* Tại phiên tòa hôm nay:
- Ông Tr n Văn T và bà Nguyễn Thị S yêu c u anh Nguyễn Văn Tr và chị
Lê Thị Cẩm N phải trả cho ông, bà số tiền mua tràm còn thiếu là
40.000.000đ ng và tiền lãi từ ngày 23/02/2015 đến ngày xét xử theo mức lãi
suất pháp lu t qui định, yêu c u trả một l n ngay khi án có hiệu lực pháp lu t.
- Bị đơn anh Nguyễn Văn Tr và chị Lê Thị Cẩm N v ng m t không lý
do dù đư c Tòa án triệu t p h p lệ hai l n.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về tố tụng: Hội đ ng xét thấy theo đơn khởi kiện và yêu c u của ông
Tr n Văn T và bà Nguyễn Thị S tại phiên tòa, thì ông T và bà S yêu c u Tòa án
nhân dân huyện Tân Phước giải quyết buộc anh Nguyễn Văn Tr và chị Lê Thị
Cẩm N phải trả cho ông, bà số tiền mua cây tràm chưa trả là 40.000.000đ ng và
tiền lãi. Anh Nguyễn Văn Tr và chị Lê Thị Cẩm N hiện cư trú tại ấp A, xã T,
huyện T, tỉnh Tiền Giang. Do đó vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án
nhân dân huyện Tân Phước theo qui định tại Điều 35, 39 của Bộ lu t tố tụng
dân sự và quan hệ pháp lu t tranh chấp là "tranh chấp về h p đ ng dân sự, mua
bán tài sản" qui định tại Khoản 3 Điều 26 của Bộ lu t tố tụng dân sự và điều 430
của Bộ lu t dân sự. Hội đ ng xét xử xét thấy bị đơn anh Nguyễn Văn Tr và chị
Lê Thị Cẩm N không có yêu c u phản tố, không có ngư i đại diện tham gia
phiên tòa và đã đư c Tòa án triệu t p h p lệ hai l n để xét xử nhưng anh
Nguyễn Văn Tr và chị Lê Thị Cẩm N vẫn v ng m t hai l n không có lý do.
Ngư i có quyền l i, nghĩa vụ liên quan ông Đ ng Văn R và ông Lê Văn Th
không có yêu c u độc l p và có đơn yêu c u Tòa án xét xử v ng m t h p lệ. Do
đó, Hội đ ng xét xử căn cứ vào điểm b khoản 2 điều 227 và khoản 1 điều 228
của Bộ lu t tố tụng dân sự, quyết định xét xử v ng m t đối với bị đơn anh
Nguyễn Văn Tr, chị Lê Thị Cẩm N và ngư i có quyền l i, nghĩa vụ liên quan
ông Đ ng Văn R, ông Lê văn Th
Về nội dung: Tại phiên tòa, ông Tr n văn T và bà Nguyễn Thị S yêu
c u anh Nguyễn Văn Tr và chị Lê Thị Cẩm N phải trả cho ông, bà số tiền mua
cây tràm chưa trả là 40.000.000đ ng và tiền lãi. Hội đ ng xét xử xét thấy yêu
c u của ông Tr n Văn T và bà Nguyễn Thị S là có có căn cứ chấp nh n, bởi lẽ:
Vào ngày 09/9/2014 ông T và bà S có bán cho v ch ng anh Nguyễn Văn Tr và
chị Lê Thị Cẩm N toàn bộ số cây tràm tr ng trên diện tích đất khoảng 50.000m2
của v ch ng ông tọa lạc tại xã M, huyện T với giá thỏa thu n là 70.000.000
đ ng và cho v ch ng anh Tr thuê 50.000m2 đất này của v ch ng ông T th i
hạn là 06 năm 06 tháng (từ ngày 09/9/2014 đến 01/01/2021) để v ch ng anh Tr
lên líp tr ng khóm. Giá thuê là 120.000.000đ ng. Tổng cộng tiền mua tràm trên
đất và thuê đất là 190.000.000đ ng. Việc mua bán tràm và cho thuê đất hai bên
có làm h p đ ng bằng giấy tay và có ký tên. Theo thỏa thu n trong h p đ ng
mua bán và thuê đất thì phía v ch ng anh Tr thanh toán cho ông T, bà S số tiền
190.000.000đ ng làm 03 l n như sau:
L n 1: Ngày 23/9/2014 thanh toán 30.000.000đ ng.
L n 2: Ngày 23/12/2014 thanh toán 70.000.000đ ng.
L n 3: Ngày 23/02/2015 thanh toán 90.000.000đ ng.
Sau khi ký kết h p đ ng v ch ng anh Tr đã khai thác toàn bộ số cây tràm
có trên diện tích đất 50.000m2 của ông T, bà S (khai thác tr ng). Đến hạn thanh toán tiền theo thỏa thu n l n 1 v ch ng anh Tr cũng không có trả tiền. Đến ngày 22/10/2014 v ch ng anh Tr có trả cho ông T, bà S đư c 20.000.000 đ ng tiền mua tràm. Đ ng th i do không canh tác nổi nên v ch ng anh Tr có thỏa thu n với ông T, bà S là để v ch ng anh Tr giới thiệu ngư i khác thuê đất của ông T, bà S với giá là 130.000.000đ ng và v ch ng anh Tr đã giới thiệu ông Lê Văn Th và Đ ng Văn R thuê lại 50.000m2 đất của ông T, bà S với giá là 130.000.000đ ng, đã giao tiền đủ. Tổng cộng ông T, bà S đã nh n tiền thuê đất và tiền bán tràm là 150.000.000đ ng. Như v y v ch ng anh Tr còn n lại v ch ng ông T, bà S số tiền mua tràm là 40.000.000đ ng đến nay vẫn không trả.
Xét thấy ông T, bà S khởi kiện anh Tr và chị N yêu c u anh Tr và chị N
phải trả cho ông bà số tiền là 40.000.000đ ng tiền vốn và lãi. Ông T, bà S có giao nộp cho Tòa án kèm theo đơn khởi kiện là h p đ ng cho thuê đất tràm để tr ng khóm ngày 09/9/2014 ký kết giữa ông T và anh Tr và h p đ ng cho thuê đất ký kết giữa ông T, bà S và anh Tr, chị N. Theo nội dung h p đ ng cho thuê đất tràm để tr ng khóm ngày 09/9/2014 ký kết giữa ông T và anh Tr và h p đ ng cho thuê đất ký kết giữa ông T, bà S và anh Tr, chị N thì thể hiện nội dung mua bán và n như ông T và bà S đã xác định là đúng. Do đó ông T và bà S đã có chứng cứ chứng minh cho yêu c u của mình là h p pháp theo qui định tại khoản 1 điều 91 của Bộ lu t tố tụng dân sự. Theo qui định tại khoản 2 điều 91 của Bộ lu t tố tụng dân sự qui định "Đương sự phản đối yêu c u của ngư i khác đối với mình phải thể hiện bằng văn bản và phải thu th p, cung cấp, giao nộp cho Tòa án tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho sự phản đối đó". Trong vụ án này anh Tr và chị N không có sự phản đối đối với yêu c u khởi kiện của ông T, bà S. Bị đơn anh Nguyễn Văn Tr và chị Lê Thị Cẩm N đã đư c Tòa án thông báo về yêu c u khởi kiện của nguyên đơn ông T, bà S và đã đư c triệu t p h p lệ hai l n để hòa giải nhưng anh Tr và chị N vẫn v ng m t hai l n không có lý do và không có ý kiến trình bày đối với yêu c u khởi kiện của nguyên đơn; Tòa án cũng đã Thông báo cho anh Tr và chị N biết về kết quả phiên họp giao nộp, tiếp c n, công khai chứng cứ nhưng anh, chị cũng tiếp tục không có ý kiến. Như v y là anh Tr và chị N biết đư c việc ông T, bà S kiện anh, chị yêu c u trả 40.000.000đ ng tiền vốn mua bán tràm và tiền lãi nhưng anh Tr và chị N vẫn m c nh n n .
Do đó có cơ sở xác định h p đ ng mua bán tài sản giữa ông T, bà S và
anh Tr, chị N đã đư c xác l p h p pháp, làm phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa các đương sự theo qui định của pháp lu t. Quá trình thực hiện h p đ ng ông T, bà S cho rằng từ khi mua cây tràm đến nay anh Tr và chị N còn n tiền vốn chưa trả là 40.000.000 đ ng, l i khai của ông T, bà S phù h p với các chứng cứ có trong h sơ vụ án như h p đ ng mua bán, cho thuê đất ngày 09/9/2014 ký kết giữa ông T, bà S và anh Tr, chị N, l i khai của ông Th và ông R, nên có căn cứ xác định anh Tr và chị N có mua cây tràm của ông T, bà S và còn n số tiền vốn 40.000.000 đ ng đến nay chưa trả như ông T, bà S đã xác định là đúng. Vì v y ông T, bà S khởi kiện là có căn cứ, Hội đ ng xét xử chấp nh n, buộc anh
Nguyễn Văn Tr và chị Lê Thị Cẩm N phải trả cho ông T, bà S số tiền mua
cây tràm còn n 40.000.000đ ng theo yêu c u của ông T, bà S là phù h p với
điều 430, 440 của Bộ lu t dân sự.
Về yêu c u tính lãi: Tại phiên tòa hôm nay ông T, bà S yêu c u anh Tr
và chị N phải trả lãi trên số tiền vốn 40.000.000đ ng tính từ ngày 23/02/2015
đến nay theo mức lãi suất mà pháp lu t qui định. Hội đ ng xét xử xét thấy khi
mua anh Tr và chi N hẹn trả tiền làm 03 l n và l n trả cuối cùng là vào ngày
23/02/2015, tuy nhiên từ ngày mua đến nay anh Tr và chị N không giao trả tiền
vốn cho ông T, bà S theo thỏa thu n nên anh Tr và chị N phải có nghĩa vụ trả lãi
cho ông T, bà S là phù h p, Hội đ ng xét xử chấp nh n yêu c u tính lãi của ông
T, bà S. Theo quy định tại điều 357 của Bộ lu t dân sự thì bên có nghĩa vụ trả
tiền mà ch m trả thì còn phải trả lãi đối với số tiền ch m trả theo mức lãi suất
đư c qui định tại điều 468 của Bộ lu t dân sự. Theo qui định tại điều 468 của Bộ
lu t dân sự thì mức lãi suất vay do các bên thỏa thu n nhưng không đư c vư t
quá 20%/năm của khoản tiền vay. Do đó ông T, bà S yêu c u tính lãi theo mức
lãi suất mà pháp lu t qui định là phù h p, Hội đ ng xét xử chấp nh n. Theo quy
định tại khoản 1 điều 468 của Bộ lu t dân sự thì mức lãi suất sẽ là 1,67%/tháng.
Th i gian anh Tr và chị N ch m trả từ ngày 23/02/2015 đến nay là 39 tháng, số
tiền lãi đư c tính như sau: 40.000.000đ ng x 1,67% x 39 tháng = 24.048.000
đ ng.
Tổng cộng vốn lãi sẽ là: 40.000.000đ ng + 26.052.000 đ ng =
66.052.000đồng.
Về th i gian trả: Tại phiên Tòa hôm nay ông T, bà S yêu c u anh Tr
và chị N phải trả cho ông, bà số tiền vốn, lãi một l n ngay sau khi án có hiệu
lực pháp lu t. Hội đ ng xét xử xét thấy anh Tr và chị N đã vi phạm h p đ ng,
vi phạm nghĩa vụ trả n theo quy định tại Điều 430, 440 Bộ lu t dân sự. Ông T,
bà S đã yêu c u anh Tr và chị N trả tiền nhiều l n nhưng anh Tr và chị N vẫn
không trả mà kéo dài th i gian trả n , gây nhiều thiệt thòi về quyền l i cho ông
T, bà S. Do đó Hội đ ng xét xử buộc anh Tr và chị N phải có nghĩa vụ trả cho
ông T, bà S số tiền vốn và lãi 66.052.000đồng theo th i gian yêu c u của ông
T, bà S là phù h p.
Về án phí: Anh Nguyễn Văn Tr và chị Lê Thị Cẩm N phải chịu án
phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 điều 26 của Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thư ng vụ Quốc hội quy
định về án phí, lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH
- Áp dụng các Điều 430, 440, khoản 2 điều 357 của Bộ lu t dân sự.
- Căn cứ điểm b khoản 2 điều 227 và khoản 1 điều 228 của Bộ lu t tố
tụng dân sự.
- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy
ban Thư ng vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Xử:
1. Chấp nh n toàn bộ yêu c u khởi kiện của ông Tr n Văn T và bà
Nguyễn Thị S.
- Buộc anh Nguyễn Văn Tr và chị Lê Thị Cẩm N phải trả cho ông
Tr n Văn T và bà Nguyễn Thị S số tiền là 66.052.000đồng (sáu mươi sáu triệu, không trăm năm mươi hai ngàn đ ng). Thực hiện nghĩa vụ giao trả một l n ngay sau khi án có hiệu lực pháp lu t.
Kể từ ngày ông T và bà S có đơn yêu c u thi hành án, cho đến khi thi
hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng anh Tr và chị N còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 điều 357 của Bộ lu t dân sự, tại th i điểm thanh toán.
2. Về án phí:
- Anh Nguyễn Văn Tr và chị Lê Thị Cẩm N phải chịu 3.302.600đ ng
tiền án phí dân sự sơ thẩm.
- Hoàn trả cho ông Tr n Văn T số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm
ông đã nộp 1.000.000 đ ng theo biên lai thu số 18879 ngày 17/10/2017 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Phước, tỉnh Tiền Giang.
3. Về quyền kháng cáo:
- Ông T và bà S đư c thực hiện quyền kháng cáo bản án trong hạn 15
ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm; anh Tr, chị N, ông R và ông Th đư c thực hiện quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa án tống đạt bản án ho c niêm yết công khai để yêu c u Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang xét xử phúc thẩm.
Trư ng h p bản án đư c thi hành theo Điều 2 Lu t thi hành án dân sự
thì các đương sự có quyền thỏa thu n thi hành án, quyền yêu c u thi hành án, tự nguyện thi hành án ho c bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7 và 9 Lu t thi hành án dân sự; th i hiệu thi hành án đư c thực hiện theo Điều 30 Lu t thi hành án dân sự. Nơi nhân:
| - TAND tỉnh Tiền Giang - VKSND huyện Tân Phước. - Chi Cục THADS huyện Tân Phước. - Các đương sự: - Lưu. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên Tòa NGUYỄN CHÍ KHANH |