vanban.org

Bản án 35/2017/HSST — Hình sự

TAND huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên Tuyên án 26/07/2017 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn L phạm tội “Buôn bán hàng cấm”.

Áp dụng: Khoản 1, 4 điều 155; điểm h, p khoản 1 điều 46 điều 60 Bộ lụât hình sự 1999. Xử phạt: Nguyễn Văn L 12 (Mƣời hai) tháng tù cho hƣởng án treo, thời gian thử thách 24 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm, giao bị cáo cho UBND xã T, huyện L, tỉnh Thái Nguyên giám sát, giáo dục. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn L - Tội buôn bán hàng cấm - phạm tội sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, buôn bán hàng cấm (điều 155 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn L phạm tội “Buôn bán hàng cấm”.
  • Căn cứ chính? Điều 41 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số 41/2017/QH14 Về việc thi hành Bộ luật Hình sự…; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN PHÚ LƢƠNG
TỈNH THÁI NGUYÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 35/2017/ HSST
Ngày: 26/7 /2017

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ LƢƠNG - TỈNH THÁI NGUYÊN

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lƣu Đình Thân Các Hội thẩm nhân dân: - Ông Nguyễn Ngọc Ngƣ

- Ông Lâm Ngọc Thắng

Thư ký ghi biên bản phiên toà: Bà Phạm Ngọc Linh - Cán bộ Toà án nhân dân huyện Phú Lƣơng, tỉnh Thái Nguyên Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Lương tham gia phiên toà: Ông: Nguyễn Ngọc Vân - Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Lƣơng.

Hôm nay, ngày 26 tháng 7 năm 2017, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phú Lƣơng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 28/2017/HSST ngày 29/5/2017, quyết định đƣa vụ án ra xét xử số 31/2017/ HSST-QĐ ngày 05.6.2017 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Văn L - Tên gọi khác: Không – Sinh năm 1987

Nơi sinh: Xã T, huyện L, tỉnh Thái Nguyên. Nơi ĐKHKTT, nơi ở hiện tại: Xóm N, xã T, huyện L, tỉnh Thái Nguyên

Dân tộc: Kinh; Văn hóa: 9/12; Nghề nghiệp: Lái xe. Con ông Nguyễn Văn K (SN 1957), con bà Đặng Thị T (SN 1964). Gia đình có 02 anh chị em, bị cáo là con thứ nhất. Vợ, con: Chƣa có.

Tiền án, tiền sự: Chƣa

Bị cáo tại ngoại tại địa phƣơng, không bị giam giữ ngày nào (Có mặt).

Ngƣời làm chứng: Anh Hoàng Quyết T Sinh năm 1988 (Có mặt)

Trú tại: Xóm T, xã T, huyện L, tỉnh Thái Nguyên

NỘI DUNG VỤ ÁN

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:

Nhận đƣợc tin báo của quần chúng nhân dân, hồi 12 giờ 30 phút ngày 09.01.2017, tại khu vực xóm T, xã T, huyện L, tỉnh Thái Nguyên Công an xã T cùng Công an huyện L phát hiện Hoàng Quyết T (Sinh năm 1988, trú tại: Xóm N, xã T, huyện L, tỉnh Thái Nguyên) đang có hành vi vận chuyển 01 túi nilon màu đỏ để ở giá để hàng phía trƣớc xe mô tô BKS 20H6-5036, kiểm tra túi bên trong đựng 15 quả nghi là pháo cù có vỏ bọc giấy màu nâu vàng (Biên bản sự việc lập ngày 09.01.2017 (BL15B). T khai số pháo này T mua của Nguyễn Văn L (Sinh năm 1987, trú tại: Xóm N, xã T, huyện L, tỉnh Thái Nguyên), cùng ngày CQĐT đã khám xét khẩn cấp nhà ở của L tại xóm N, L đã tự nguyện giao nộp: 01 hộp giấy màu trắng tím bên ngoài có in chữ Trung Quốc, bên trong có chứa 02 hộp pháo giàn hình vuông loại 36 quả ; 01 bao tải dứa màu trắng xanh bên trong có 01 bánh pháo cuộn màu đỏ, đƣờng kính 35cm.

Khám xét nhà ở của L thu giữ: Thu giữ trong tủ quần áo kê trong buồng cạnh nhà tắm 08 bánh pháo tép màu hồng; 01 bánh pháo cuộn màu đỏ, 10 quả pháo cù; Thu giữ tại nóc chuồng gà 01 hộp pháo giàn hình vuông loại 36 quả màu tím đỏ; 01 bánh pháo cuộn màu đỏ (Biên bản khám xét - BL13).

Tại Bản tƣờng trình, biên bản ghi lời khai, biên bản hỏi cung bị can và tại phiên tòa, Nguyễn Văn L khai: L làm nghề lái xe ô tô tải thuê. Từ tháng 10.2016 đến tháng 12.2016, trong quá trình vận chuyển gạo từ Hải Phòng lên huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng, L đã 04 lần mua pháo của những ngƣời không quen biết tại huyện Trùng Khánh với số lƣợng 03 hộp pháo giàn loại 36 quả, 10 bánh pháo tép, 03 cuộn pháo bánh, 95 quả pháo cù với tổng số tiền 3.550.000đ. Sau khi mua đƣợc pháo L vận chuyển mang về xóm N, xã T, huyện L cất giấu để bán kiếm lời. L đã bán cho ngƣời lái xe tải (Không rõ tên tuổi, địa chỉ) 40 quả pháo cù với giá 600.000đ, bán cho 03 ngƣời cùng xóm nhà L, gồm Hoàng Công V (Sinh năm 1989) 30 quả pháo cù với giá 450.000đ nhƣng V chƣa trả tiền, bán cho Đặng Văn T (SN 1990) 02 dây pháo tép thu đƣợc số tiền 40.000đ; Bán cho Hoàng Quyết T 15 quả pháo cù thu đƣợc số tiền 225.000đ. Số pháo còn lại bị Cơ quan điều tra thu giữ.

Trong quá trình điều tra, V và T không thừa nhận mua pháo của L. (BL 39, 40, 41, 65-68).

Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận hành vi nhƣ đã nêu trên, V và T vắng mặt.

Qua trình điều tra cân kiểm tra xác định trọng lƣợng, số hàng cấm nghi là pháo thu giữ của L có trọng lƣợng không bì là 11.6kg, số hàng cấm nghi là pháo cù thu giữ của T có trọng lƣợng không bì là 0.5kg, tổng trọng lƣợng chung là 12.1kg (BL18).

Tại kết luận giám định số 321/KL-PC54 ngày 13.02.2017 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Nguyên kết luận: Vật hình hộp kích thƣớc 15x15x15cm bên trong có 36 vật hình trụ, mỗi vật dài 15cm, đƣờng kính 2.2cm là pháo nổ (dàn pháo hoa nổ). Vật hình bóng đèn tròn, phần hình cầu đƣờng kính 4cm, phần hình trụ đƣờng kính 2.85cm, dài 2.5cm đƣợc gắn 01 sợi dây màu xanh dài 29cm là pháo nổ (pháo thăng thiên nổ), vật hình trụ màu đỏ liên kết với nhau là pháo nổ (bánh pháo nổ). (BL 20-21).

Tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến thắc mắc gì về việc mở niêm phong và cân xác định trọng lƣợng của Cơ quan cảnh sát điều tra ( CQCS ĐT) Công an huyện Phú Lƣơng và Kết luận giám định của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Nguyên. Trong quá trình điều tra, truy tố bị cáo xác định không bị ép cung, nhục hình, sức khỏe bình thƣờng, tỉnh táo, minh mẫn khai báo. Đƣợc tống đạt Bản cáo trạng và Quyết định đƣa vụ án ra xét xử trƣớc khi mở phiên tòa. Tự đọc cáo trạng, nghe công bố tại phiên tòa, không có ý kiến thắc mắc gì đối với bản cáo trạng. Đƣợc giải thích rõ quyền và nghĩa vụ của bị cáo, không xin thay đổi thành phần Hội đồng xét xử.

Bản cáo trạng số 30/QĐ-VKS ngày 29/5/2017 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Lƣơng, tỉnh Thái Nguyên đã truy tố Nguyễn Văn L về tội Buôn bán hàng cấm theo khoản 1 điều 155 BLHS.

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố hành vi của bị cáo Nguyễn Văn L đã đủ yếu tố cấu thành tội Buôn bán hàng cấm theo khoản 1 điều 155 BLHS.

Đề nghị HĐXX: áp dụng khoản 1 điều 155 BLHS; điểm p khoản 1 điều 46 điều 60 BLHS 1999 xử phạt bị cáo từ 9 đến 12 tháng tù cho hƣởng án treo, ấn định thời gian thử thách theo luật định.

Xử lý vật chứng và buộc bị cáo phải chịu án phí HSST theo quy định pháp luật.

Phần tranh tụng tại phiên tòa bị cáo không tự bào chữa và không có ý kiến gì.

Nói lời sau cùng: Bị cáo nhất trí mức án và hình thức cải tạo nhƣ đại diện Viện kiểm sát đề nghị xin Hội đồng xét xử cho bị cáo đƣợc hƣởng lƣợng khoan hồng của Nhà nƣớc, hứa không tái phạm.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã đƣợc thẩm tra, xét hỏi, tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy nhƣ sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra công an huyện Phú Lƣơng, điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Lƣơng, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng đã thực hiện đều đúng quy định của pháp luật.

Hành vi mua bán, vận chuyển pháo của Nguyễn Văn L bị phát hiện và bắt gữi vào ngày 09/01/2017, căn cứ điều 6 và Phụ lục 4 về Danh mục ngành, nghề đầu tƣ kinh doanh có điều kiện của Luật đầu tƣ năm 2014 (Luật sửa đổi, bổ sung Luật đầu tƣ 2014) trong đó có quy định « Kinh doanh pháo nổ » vào ngành, nghề cấm đầu tƣ kinh doanh (điều 6). Quy định này có hiệu lực từ ngày 01/01/2017. Và vi phạm vào Điều 4 Nghị định số 36/2009/NĐ-CP ngày 15.4.2009 của Chính phủ về quản lý, sử dụng pháo là loại hàng hóa cấm kinh doanh. Bị cáo là ngƣời có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, biết rõ mua bán các loại pháo đã bị Nhà nƣớc cấm nhƣng do hám lợi nên vẫn cố thực hiện nhằm thu lợi bất chính. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế đối với các loại hàng hóa mà Nhà nƣớc cấm lƣu thông (kinh doanh). Trọng lƣợng thu giữ 12. 1 kg, Thông tƣ 06/2008/TTLT ngày 25/12/2008 Thông tƣ liên tịch của Liên ngành Tòa án nhân dân Tối cao, Viện kiểm sát nhân dân Tối cao, Bộ công an hƣớng dẫn áp dụng pháp luật xác định trọng lƣợng hàng cấm (pháo nổ) cân trọng lƣợng từ 10 kg đến dƣới 50 kg (đƣợc coi là số lƣợng lớn) mục 2.3 phần III thì bị xử lý trách nhiệm hình sự với tội danh Buôn bán hàng cấm quy định taị điều 155 BLHS. Nhƣ vậy hành vi, ý thức và trọng lƣợng thu giữ đƣợc của bị cáo đủ các yếu tố cấu thành tội Buôn bán hàng cấm và thuộc khoản 1 điều 155 BLHS.

“1. Ngƣời nào…buôn bán hàng hóa mà Nhà nƣớc cấm kinh doanh có số lƣợng lớn... thì bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mƣơi triệu đồng hoặc bị phạt tù từ sáu tháng đến năm năm”. Cáo trạng truy tố bị cáo theo tội danh và điều luật viện dẫn là có căn cứ, đúng ngƣời, đúng tội, đúng pháp luật.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo là ngƣời có nhân thân tốt thể hiện việc bị cáo không có tiền án, tiền sự, bị cáo nhất thời phạm tội. Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, do đó bị cáo đƣợc hƣởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm p khoản 1 điều 46 BLHS. Chính quyền địa phƣơng nơi bị cáo cƣ trú bảo lãnh và có trách nhiệm quản lý, giáo dục bị cáo. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng TNHS nào.

Về phần hình phạt bổ sung, theo quy định tại khoản 4 điều 155 BLHS quy định: “Ngƣời phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ ba triệu đồng đến ba mƣơi triệu đồng…”, trong vụ án này cần áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.

Điều 191 Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi 2017 : Tội Tàng trữ, vận chuyển hàng cấm, quy định mức hình phạt tại khoản 1: Phạt tù từ 06 tháng đến 3 năm. Căn cứ khoản 3 điều 7 BLHS 2015 và Nghị quyết 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 theo nguyên tắc có lợi cho bị cáo. Xác định bị cáo đƣợc hƣởng thêm tình tiết giảm nhẹ « Phạm tội lần đầu và thuộc trƣờng hợp ít nghiêm trọng » - điểm h khoản1 điều 46 BLHS 1999. Bị cáo có đủ điều kiện quy định tại các điểm a, b điều 2 Nghị quyết số 01/2013/ NQ-HĐTP ngày 06/11/2013, do đó có căn cứ cho bị cáo cải tạo ngoài xã hội, dƣới sự giám sát, giáo dục của chính quyền địa phƣơng cũng đủ tác dụng giáo dục, răn đe, phòng ngừa chung.

Về vật chứng vụ án: Tịch thu tiêu hủy 01 bao tải đƣợc niêm phong bên trong đựng 02 hộp pháo dàn loại 36 quả/hộp; 23 quả pháo cù, 07 bánh pháo tép, 03 bánh pháo cuộn (Hiện đang gửi tại Đại đội kho 29 của Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Thái Nguyên); 01 hộp giấy màu trắng tím, bên ngoài vỏ hộp có in chữ Trung Quốc; 01 bao tải dứa màu trắng xanh loại bao đựng cám lợn loại 25kg; 01 túi nilon màu đỏ.

Căn cứ điểm b khoản 1 điều 41 BLHS; điều 76 BLTTHS cần tịch thu 225.000đ tiền bán pháo cho T và 40.000đ tiền bán pháo cho T và 600.000đ tiền bán pháo cho V để sung quỹ nhà nƣớc.

Về nguồn gốc số pháo: L khai mua của những ngƣời không quen biết ở Trùng Khánh, Cao Bằng, CQĐT tiếp tục điều tra xử lý sau.

L khai đã bán pháo nổ cho 03 ngƣời, một ngƣời không rõ lai lịch, địa chỉ, Đặng Văn T và Hoàng Công V không thừa nhận mua pháo của L nên chƣa có đủ cơ sở xử lý đối với những ngƣời này.

Hoàng Quyết T có hành vi vận chuyển 0.5kg pháo nổ mua của L, hành vi không cấu thành tội phạm nên CQĐT Công an huyện Phú Lƣơng đã đề nghị UBND huyện Phú Lƣơng xử phạt hành chính theo quy định.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Bị cáo có quyền kháng cáo theo luật định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn L phạm tội “Buôn bán hàng cấm”.

1. Áp dụng: Khoản 1, 4 điều 155; điểm h, p khoản 1 điều 46 điều 60 Bộ lụât hình sự 1999.

Xử phạt: Nguyễn Văn L 12 (Mƣời hai) tháng tù cho hƣởng án treo, thời gian thử thách 24 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm, giao bị cáo cho UBND xã T, huyện L, tỉnh Thái Nguyên giám sát, giáo dục.

Phạt bổ sung: 3.000.000đ (Ba triệu đồng) sung quỹ Nhà nƣớc.

2. Vật chứng vụ án: Áp dụng Điều 41 của Bộ luật hình sự, Điều 76 của Bộ luật tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy: 01 bao tải đƣợc niêm phong bên trong đựng 02 hộp pháo dàn loại 36 quả/hộp; 23 quả pháo cù, 07 bánh pháo tép, 03 bánh pháo cuộn (Hiện đang gửi tại Đại đội kho 29 của Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Thái Nguyên); 01 hộp giấy màu trắng tím, bên ngoài vỏ hộp có in chữ Trung Quốc; 01 bao tải dứa màu trắng xanh loại bao đựng cám lợn loại 25kg; 01 túi nilon màu đỏ.

Tịch thu 225.000đ tiền bán pháo cho T.

Truy thu số tiền 640.000đ (Sáu trăm bốn mƣơi nghìn đồng) tiền bán pháo cho T và V sung quỹ Nhà nƣớc.

(Vật chứng trong kho vật chứng của Chi cục Thi hành án đân sự huyện Phú Lƣơng tại Biên bản giao nhận vật chứng ngày 20.7.2017) và ủy nhiệm chi số 38 ngày 30.6.2017).

3. Án phí: Áp dụng điều 99 của Bộ luật tố tụng hỡnh sự, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 buộc bị cỏo phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng chẵn) ỏn phớ hỡnh sự sơ thẩm để sung công quỹ nhà nƣớc.

Án xử công khai sơ thẩm, bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi Nhận.

T. M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- VKS- Phú Lƣơng.

Cỡ chữ