vanban.org

Bản án 35/2017/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Anh M xin ly hôn chị D."
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 271 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỐNG ĐA
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 35/2017/HNGĐ-ST.
Ngày: 10/7/2017
V/v tranh chấp: Ly hôn

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỐNG ĐA, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa:

Ông Trần Văn Tịnh

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Nguyễn Thị Cờ

Bà Vũ Thị Mai

Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Ông Nguyễn Văn Sơn- Thẩm tra viên Toà án nhân dân quận Đống Đa, thành phố Hà Nội.

Đại diện Viện kiểm sát quận Đống Đa thành phố Hà Nội- Không tham dự.

Ngày 10 tháng 7 năm 2017, tại trụ sở Toà án nhân dân quận Đống Đa xét xử công khai sơ thẩm vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số 127/2017/HN& GĐ/ST ngày 13/02/2017 về tranh chấp: Ly hôn, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 68/2017/QĐXX-LH-ST ngày 25 tháng 6 năm 2017 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Anh Trần Quang M- Sinh 1973; Địa chỉ cư trú: Số nhà X, ngõ Y, phố H, phường HB, quận Đống Đa, Thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: Tự do (Có mặt).

Bị đơn: Chị Nguyễn Thanh D -Sinh 1978; Địa chỉ đăng ký hộ khẩu tại: Số nhà X, ngõ Y, phố H, phường HB, quận Đống Đa, Thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: Tự do (Vắng mặt).

Nội Dung Vụ Án

Tại đơn xin ly hôn đề ngày 26/01/2017 và lời khai tiếp theo trong quá trình giải quyết, xét xử vụ án, nguyên đơn anh Trần Quang M trình bày: Anh và chị Nguyễn Thanh D kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại ủy ban nhân dân phường HB, quận Đống Đa, Thành phố Hà Nội. Sau khi kết hôn, anh chị chung sống tại số Số nhà X, ngõ Y, phố H, phường HB, quận Đống Đa, Thành phố Hà Nộ là nhà của bố mẹ anh.

Quá trình chung sống vợ chồng, theo anh M trình bày vợ chồng anh và chị D không hòa thuận hạnh phúc , phát sinh nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân là do tính cách và quan điểm sống bất đồng. Năm 2015 anh đã gửi đơn để ly hôn chị D nhưng sau đó anh lại rút đơn. Tiếp theo cả anh và chị D đều ký đơn thuận tình ly hôn nhưng chị D lại thay đổi nên cả anh và chị D không gửi đơn đến Tòa án.

Nay anh xác định tình cảm vợ chồng không còn, anh đề nghị Tòa án giải quyết để anh được ly hôn với chị D.

- Về con chung: Theo anh M trình bày: Anh và chị D có 02 con chung là Trần Minh H - Sinh 15/4/2008 và Trần Quang L - Sinh 18/6/2012; Ly hôn anh đồng ý để chị D trực tiếp nuôi dưỡng cả 02 con chung vì hiện nay các cháu đang ở cùng chị D và anh có trách nhiệm đóng góp tiền nuôi dưỡng con chung là 4.000.000/tháng.

- Về tài sản, nhà ở chung: Anh và chị D không có tài sản , nhà ở chung. Ly hôn, không yêu cầu Tòa án giải quyết .

- Về nợ: Quá trình chung sống vợ chồng anh và chị D không vay nợ ai và cũng không cho ai vay nợ. Ly hôn, anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đối với bị đơn chị Nguyễn Thanh D, sau khi nhận Thông báo thụ lý vụ án của Tòa án theo quy định, tại văn bản tự khai ngày 21/4/2017, chị D không đồng ý với yêu cầu xin ly hôn của anh M với lý do các con chung của anh chị còn nhỏ nên chị không đến Tòa án để giải quyết theo yêu cầu của Tòa án. Tuy nhiên quá trình giải quyết vụ án tại văn bản ngày 10/6/2017, chị D xác nhận vợ chồng không còn tình cảm nên đồng ý thuận tình ly hôn với anh M.

Về con chung: Chị D cũng xác nhận vợ chồng chị và anh M có 02 con chung là Trần Minh H - Sinh 15/4/2008 và Trần Quang L- Sinh 18/6/2012. Ly hôn chị có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng cả 02 con chung và không đề cập yêu cầu anh M đóng góp tiền nuôi dưỡng các con chung.

Về tài sản, nhà ở chung: Chị cũng xác nhận chị và anh M không có tài sản, nhà ở chung. Ly hôn không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ: Quá trình chung sống vợ, chồng chị và anh M không vay nợ ai và cũng không cho ai vay nợ. Ly hôn không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà.

Nhận Định

Về thủ tục tố tụng : Chi Nguyễn Thanh D là bị đơn đã có lời khai và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt là tự nguyện căn cứ quy định tại điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự việc xét xử vắng mặt chị D là có căn cứ.

Về nội dung : Chị Nguyễn Thanh D và anh Trần Quang M kết hôn hợp pháp, trên cơ sở tự nguyện tìm hiểu, có đăng ký kết hôn ngày 08/4/2007 tại ủy ban nhân dân phường HB, quận Đống Đa Hà Nội. Sau khi kết hôn một thời gian ngắn, anh chị chuyển về chung sống tại địa chỉ số nhà X, ngõ Y, phố H, phường HB, quận Đống Đa, Thành phố Hà Nội là nhà ở của bố mẹ anh M. Cho đến tháng 3/2017 khi Tòa án nhân dân quận Đống Đa đang giải quyết việc ly hôn giữa anh M và chị D thì chị D cùng 02 con chung không chung sống cùng anh M nữa.

Xét những lý do anh M trình bày về mâu thuẫn vợ chồng và ý kiến xác nhận bằng văn bản của chị D, căn cứ lời khai xác nhận của các đương sự trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa: Có căn cứ để xác định quan hệ vợ chồng anh M và chị D mâu thuẫn đã trầm trọng, mục đích xây dựng gia đình hòa thuận hạnh phúc không đạt được nên cả anh M và chị D đều đồng ý thuận tình ly hôn. Xét việc thuận tình ly hôn giữa anh M và chị D là tự nguyện phù hợp quy định tại điều 55 luật Hôn nhân gia đình nên chấp nhận.

Về con chung: Vợ chồng chị D, anh M có 02 con chung là Trần Minh H - Sinh 15/4/2008 và Trần Quang L- Sinh 18/6/2012. Ly hôn chị D và anh M thỏa thuận để chị D trực tiếp nuôi dưỡng cả 02 con chung. Đối với chị D tuy không đề cập đến yêu cầu anh M phải đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con chung. Đối với anh M đồng ý đóng góp tiền nuôi dưỡng con chung 4.000.000/tháng. Xét việc nuôi con và đóng góp tiền nuôi dưỡng các con chung là quyền lợi cũng như thể hiện trách nhiệm, nghĩa vụ của cha mẹ đối với con chung khi ly hôn là rất đáng trân trọng cần ghi nhận. Trong trường hợp này cần buộc anh M đóng góp tiền nuôi dưỡng các con chung 4.000.000đ/tháng là phù hợp với hoàn cảnh đặc thù giữa anh M và chị D.

Về tài sản, nhà ở chung: Cả chị D, anh M đều xác nhận vợ chồng không có tài sản, nhà ở chung, không yêu cầu nên Tòa án không xem xét giải quyết.

Về nợ chung : Cả chị D, anh M xác nhận vợ chồng không có nợ chung không yêu cầu nên Tòa án không xem xét giải quyết.

Từ những nhận định trên!

Quyết Định

- Căn cứ các Điều 55, 56,59, 81,82,83 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014

- Căn cứ Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự.

- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Xử:

Công nhận thuận tình ly hôn giữa anh Trần Quang M và chị Nguyễn Thanh D.

Về con chung: Xác định anh M, chị D có 02 con chung là Trần Minh H - Sinh 15/4/2008 và Trần Quang L- Sinh 18/6/2012. Công nhận sự thỏa thuận giữa anh M và chị D để chị D được quyền trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cả 02 con chung kể từ tháng 7/2017 cho đến khi con chung được giao nuôi dưỡng trưởng thành đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác. Anh M có trách nhiệm đóng góp tiền nuôi dưỡng các con chung 4.000.000đồng/tháng kể từ tháng 7/2017 cho đến khi con chung được giao nuôi dưỡng trưởng thành đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác. Anh M có quyền đi lại, thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được ngăn cản.

Về tài sản nhà ở chung: Giữa chị D anh M không có tài sản, nhà ở gì chung, không yêu cầu nên Tòa án không xem xét giải quyết.

Về nợ chung: Chị D, anh M không có nợ chung, không yêu cầu nên Tòa án không xem xét giải quyết.

Về án phí: Anh M phải chịu cả 300.000đ án phí ly hôn sơ thẩm đã nộp tại biên lai số 5193 ngày 10/02/2017 tại chi cục Thi hành án quận Đống Đa.

Án xử công khai sơ thẩm có mặt anh M, vắng mặt chị D. Anh M có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, chị D có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ nhận được tống đạt hợp lệ bản án.

Cỡ chữ