- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn do nghiện ma tuý, rượu chè, cờ bạc — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn giữa chị T và anh TH"
- Tòa quyết gì? * - Áp dụng: - Các điều 51, 56, 57,58, 81, 82,83 và 84 của Luật Hôn Nhân Gia Đình năm 2014; Khoản 2 điều 144, Khoản 4 điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Nghị quyết số: 326/2016/ UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của ủy ban thường vụ Quốc hội về án lệ phí Tòa án.
- Căn cứ chính? Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc | |
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KHOÁI CHÂU TỈNH HƯNG YÊN ---***--- Bản án số: 35/2017/HNGĐ-ST Ngày 27/06/2017 “ V/v: ly hôn giữa chị T và anh TH” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KHOÁI CHÂU TỈNH HƯNG YÊN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
-------------------------------
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: ông Phạm Thế Phương
Các hội thẩm nhân dân:
1/ -ông Trần Xuân Hoà - Nguyên Chủ tịch MTTQ xã An Vỹ.
2/ - bà Đặng Thị Thêm - Nguyên Chủ tịch Hội phụ nữ xã Dạ Trạch.
thư ký phiên toà: - bà Nguyễn Thị Loan - Cán bộ Thư ký Toà án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Huyện Khoái Châu tham gia phiên toà: bà Lê Thị Thùy – Kiểm sát viên.
Hôm nay ngày 27/06/2017 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Khoái Châu mở phiên toà xét xử công khai vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số: 80/2017/LH-ST Ngày 27/03/2017 về việc "Xin ly hôn" giữa:
*- Nguyên đơn: chị Khúc Thị T - Sinh năm 1986.
+ Sinh quán: xã M Huyện Y tỉnh Phú Thọ.
+ Trú quán và HKTT tại: Thôn V thị trấn K Huyện Khoái Châu tỉnh Hưng Yên ( Có mặt tại phiên toà).
*- Bị đơn: anh Nguyễn Văn TH - Sinh năm 1983.
+ Sinh, Trú quán và HKTT tại: Thôn V thị trấn K Huyện Khoái Châu tỉnh Hưng Yên ( Vắng mặt tại phiên toà).
*- Những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
1/- Cháu Nguyễn Văn H
- Sinh ngày 07/11/2010.
+ HKTT tại: Thôn V thị trấn K huyện Khoái Châu tỉnh Hưng Yên ( Vắng mặt tại phiên toà).
2/- Cháu Nguyễn Văn U
- Sinh ngày 03/05/2012.
+ HKTT tại: Thôn V thị trấn K Huyện Khoái Châu tỉnh Hưng Yên (Vắng mặt tại phiên toà). + Người giám hộ cho cháu H và cháu U là chị Khúc Thị T
NỘI DUNG VỤ ÁN
Tại đơn khởi kiện đề ngày 02/03/2017 và trong quá trình xét xử, nguyên đơn chị Khúc Thị T trình bày:
Về hôn nhân: Chị Khúc Thị T chung sống với anh Nguyễn Văn TH từ năm 2009, đến năm 2001 mới đăng ký tại UBND thị trấn K. Hai anh chị chung sống với nhau hoà thuận hạnh phúc bình thường đến khoảng năm 2014 thì nẩy sinh mâu thuẫn do anh TH chơi bời dùng chất ma túy, nhiều lần đánh đuổi vợ con. Do không chịu được nên từ tháng 12/2016 chị phải mang con đi ở riêng, từ đó đến nay hai anh chị sống ly thân nhau mỗi người ở một nơi, không quan tâm chăm sóc nhau. Nay chị xin được ly hôn với anh TH vì không có hạnh phúc.
Về con chung: Chị T và anh TH có hai con chung là cháu Nguyễn Văn H (sinh ngày 07/11/2010) và cháu Nguyễn Văn U ( sinh ngày 03/05/2012) hiện đang ở với chị T. Quan điểm của chị T là xin được nuôi cả hai cháu mà không yêu cầu việc đóng góp phí tổn nuôi con.
Về chia tài sản: Chị T không yêu cầu Toà án đặt ra giải quyết phân chia.
Tại biên bản ghi lời khai ngày 14/4/2017, bị đơn anh Nguyễn Văn TH trình bày:
Về hôn nhân: Anh cũng khai nhận về thời gian, điều kiện, hoàn cảnh kết hôn như chị Khúc Thị T trình bày trên đây. Anh không nhất trí ly hôn vì vẫn còn tình cảm với chị T.
Về con chung: Anh và chị T có hai con chung là cháu H và cháu U như chị T trình bày. Nếu ly hôn thì anh xin được nuôi cả hai cháu mà không yêu cầu việc đóng góp phí tổn nuôi con.
Về chia tài sản: Anh TH không yêu cầu Toà án đặt ra giải quyết phân chia.
Mặc dù Tòa án nhân dân Huyện Khoái Châu đã nhiều lần báo triệu tập đến tham gia giải quyết vụ án, đã hai lần thông báo và báo triệu tập hợp lệ đến tham gia phiên tòa xét xử sơ thẩm, nhưng anh Nguyễn Văn TH đều vắng mặt mà không có lý do chính đáng. Nên vụ án được đưa ra xét xử vắng mặt anh TH theo quy định của pháp luật.
Tại phiên toà hôm nay: Nguyên đơn chị Khúc Thị T vẫn giữ nguyên ý kiến và quan điểm trên đây.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Huyện Khoái Châu tham gia phiên toà đã phát biểu ý kiến: Trong quá trình giải quyết vụ án thì Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã thực hiện và tuân theo đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Các đương sự: Nguyên đơn đã chấp hành đúng các quy định của pháp luật khi tham gia tố tụng trong vụ án. Bị đơn chưa chấp hành đầy đủ các quy định của pháp luật vì nhiều lần không đến Tòa án theo giấy triệu tập. Về việc giải quyết vụ án: Căn cứ 51, 56, 57, 58, 81, 82, 83, 84 của luật Hôn Nhân Gia Đình năm 2014; Khoản 2 điều 144, Khoản 4 điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Nghị quyết số: 326/2016/ UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của ủy ban thường vụ Quốc hội về án lệ phí Tòa án. Đề nghị xử cho chị Khúc Thị T được ly hôn với anh Nguyễn Văn TH; Giao cả hai con chung cho chị Khúc Thị T tiếp tục nuôi dưỡng chăm sóc; Việc đóng góp phí tổn nuôi con không đặt ra; Tài sản chung, công nợ chung và đất ruộng nông nghiệp 03 của anh Nguyễn Văn TH và chị Khúc Thị T thì không đặt ra giải quyết trong vụ án ly hôn này; Nguyên đơn chị Khúc Thị T phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng. Hội đồng xét xử nhận định:
Về quan hệ hôn nhân: Việc anh Nguyễn Văn TH và chị Khúc Thị T kết hôn có đăng ký là hoàn toàn hợp pháp đã xác lập quan hệ vợ chồng. Tuy nhiên trong quá trình chung sống anh chị đã nẩy sinh mâu thuẫn, sống ly thân không quan tâm chăm sóc nhau, cuộc sống hạnh phúc gia đình đang ở tình trạng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Mặc dù không nhất trí ly hôn nhưng anh TH không có biện pháp tích cực gỡ để vợ chồng về đoàn tụ chung sống. Nên cần xử cho chị T được ly hôn với anh TH để hai anh chị sớm ổn định tạo lập hạnh phúc gia đình mới.
Về con chung: Anh TH và chị T có hai con chung hiện đang ở với chị T. Mặc dù anh TH cũng có nguyện vọng xin được cả hai cháu nhưng qua xác minh tại địa phương thì anh TH là người lười lao động, lại có biểu hiện dùng ma túy đá, nên không đảm bảo việc chăm sóc, giáo dục con chung. Vì vậy cần giao cả hai cháu H và U cho chị T tiếp tục nuôi. Do chị T không yêu cầu nên việc đóng góp phí tổn nuôi con không đặt ra. Sau khi ly hôn, anh TH được quyền thăm nom, chăm sóc và được quyền xin thay đổi việc nuôi con chung theo quy định của pháp luật.
Về chia tài sản: Do cả anh Nguyễn Văn TH và chị Khúc Thị T đều không yêu cầu phân chia nên Tòa án không đặt ra xem xét trong vụ án ly hôn này. Khi nào anh chị có yêu cầu phân chia sẽ làm đơn khởi kiện để xem xét giải quyết ở vụ án dân sự khác.
Về án phí: Nguyên đơn chị Khúc Thị T phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Trong thời hạn luật định các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH
* - Áp dụng: - Các điều 51, 56, 57,58, 81, 82,83 và 84 của Luật Hôn Nhân Gia Đình năm 2014; Khoản 2 điều 144, Khoản 4 điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Nghị quyết số: 326/2016/ UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của ủy ban thường vụ Quốc hội về án lệ phí Tòa án.
*- Xử :
1. - Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Khúc Thị T được ly hôn với anh Nguyễn Văn TH.
2. - Về con chung: Giao cháu Nguyễn Văn H ( sinh ngày 07/11/2010) và cháu Nguyễn Văn U ( sinh ngày 03/05/2012) cho chị Khúc Thị T tiếp tục nuôi. Việc đóng góp phí tổn nuôi con không đặt ra. Sau khi ly hôn, anh Nguyễn Văn TH được quyền thăm nom, chăm sóc và được quyền xin thay đổi việc nuôi con chung theo quy định của pháp luật.
3. - Về chia tài sản: Không đặt ra xem xét. Khi nào anh Nguyễn Văn TH, chị Khúc Thị T có yêu cầu phân chia sẽ làm đơn khởi kiện để xem xét giải quyết ở vụ án dân sự khác.
4. - Về án phí: Chị Khúc Thị T phải chịu 300.000đồng án phí ly hôn sơ thẩm ( Đối trừ vào số tiền 300.000 đồng dự phí chị T đã nộp theo biên lai thu số 0001829 ngày 27/03/2017 tại cơ quan Chi cục Thi hành án dân sự Huyện Khoái Châu nên việc nộp án phí đó xong).
Án xử công khai sơ thẩm, báo cho chị Khúc Thị T (Có mặt tại phiên tòa) biết có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án 27/6/2017. Báo cho anh Nguyễn Văn TH (vắng mặt tại phiên toà) biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được hoặc ngày niêm yết bản sao bản án tại địa phương nơi cư trú./
T/M: Hội đồng xét xử
Chủ toạ phiên toà
- Nơi nhận: + TAND tỉnh Hưng Yên + VKSND huyện Khoái Châu. + THADS huyện Khoái Châu. + Các đương sự, lưu Hồ sơ, VP.