vanban.org

Bản án 35/2017/HNGĐ-ST — Tranh chấp về nuôi con, chia tài sản của nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn hoặc hủy kết hôn trái pháp luật

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị Đinh Thị Trúc P và anh Nguyễn Văn X.

Về nuôi con chung: Không có. Về chia tài sản: Tài sản chung: Đã thỏa thuận xong, không yêu cầu giải quyết; Về nợ: Không có Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về nuôi con, chia tài sản của nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn hoặc hủy kết hôn trái pháp luật — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp về nuôi con, chia tài sản của nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn hoặc hủy kết hôn trái pháp luật"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị Đinh Thị Trúc P và anh Nguyễn Văn X.
  • Căn cứ chính? Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 186 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 188 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TAM NÔNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH ĐỒNG THÁP
Bản án số: 35/2017/HNGĐ-ST
Ngày 26 - 12 - 2017
V/v Ly hôn, tranh chấp nuôi con, chia
tài sản khi ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM NÔNG, TỈNH ĐỒNG THÁP

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Hùng Cường.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Thanh Hùng.

2. Bà Nguyễn Thị Bé.

Thư ký phiên tòa: Bà Dương Thị Như Ý là thư ký Tòa án nhân dân huyện Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp.

Ngày 26 tháng 12 năm 2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 287/2017/TLST-HNGĐ ngày 09 tháng 11 năm 2017 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con, chia tài sản khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 85/2017/QĐXX-ST ngày 12 tháng 12 năm 2017 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Đinh Thị Trúc P, sinh năm 1998, có mặt.

Địa chỉ: Ấp P, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.

2. Bị đơn: Nguyễn Văn X, sinh năm 1991, có đơn xin vắng mặt.

Địa chỉ: Ấp X, xã A, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện ngày 07–11–2017 và trong quá trình xét xử nguyên đơn chị Đinh Thị Trúc P trình bày:

Vào năm 2015 chị P và anh X có tổ chức đám cưới nhưng không có đăng ký kết hôn. Thời gian đầu chung sống rất hạnh phúc nhưng từ tháng 5/2015 đến nay anh, chị thường xuyên xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân do anh X có thái độ không coi trọng gia đình chị P, dùng những lời lẽ khó nghe để xúc phạm chị và gia đình chị, thường xuyên uống rượu, không chăm lo cho gia đình. Sau nhiều lần góp ý, anh X hứa sẽ thay đổi nhưng vẫn không thay đổi được và anh, chị đã ly thân từ tháng 9/2017 cho đến nay, nhận thấy tình cảm không còn có sống chung cũng không có hạnh phúc. Trong thời gian chung sống chị và anh X không có con chung. Nay chị P yêu cầu ly hôn với anh X. Về nuôi con chung: Không có; Về chia tài sản: Tài sản chung: Anh, chị đã thỏa thuận xong, không yêu cầu giải quyết, về nợ: Không có.

Anh Nguyễn Văn X có đơn xin giải quyết vắng mặt nhưng trong quá trình giải quyết vụ án, anh Nguyễn Văn X trình bày:

Vào năm 2015 anh và chị P có tổ chức đám cưới nhưng không có đăng ký kết hôn. Thời gian đầu chung sống có hạnh phúc, nhưng từ tháng 5/2015 anh, chị thường xuyên xảy ra mâu thuẫn do anh uống rượu thường xuyên từ đó dẫn đến cãi nhau, có lúc nóng tính anh có dùng những lời lẽ khó nghe để xúc phạm chị P và gia đình bên chị, anh hứa nhiều lần là sẽ thay đổi nhưng không thay đổi được nên chị P đã bỏ về nhà cha mẹ sinh sống và ly thân với anh từ tháng 9/2017 cho đến nay. Qua yêu cầu của chị Đinh Thị Trúc P thì anh có ý kiến như sau:

Về hôn nhân: Thống nhất ly hôn với chị Đinh Thị Trúc P.

Về nuôi con chung: Trong thời gian chung sống anh và chị P không có con chung.

Về chia tài sản: Tài sản chung: Anh, chị đã thỏa thuận xong, không yêu cầu giải quyết, về nợ: Không có.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa. Hội đồng xét xử Tòa án nhân dân huyện Tam Nông nhận định:

Về tố tụng:

Đây là vụ án về ly hôn nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Ngày 09-11-2017 Tòa án nhân huyện Tam Nông nhận được đơn khởi kiện của chị Đinh Thị Trúc P, sinh năm 1998, địa chỉ: Ấp P, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Tháp về việc yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn với anh Nguyễn Văn X, sinh năm 1991, địa chỉ: Ấp X, xã A, huyện T, tỉnh Đồng Tháp. Xét thấy, người khởi kiện có quyền khởi kiện và đã thực hiện đúng về thủ tục khởi kiện theo quy định tại các Điều 186, 188, 189, 190 của Bộ luật tố tụng dân sự. Người bị kiện có địa chỉ cư trú tại huyện Tam Nông nên Tòa án nhân dân huyện Tam Nông thụ lý giải quyết theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a, khoản 1 Điều 35, điểm a, khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Tại phiên tòa bị đơn Nguyễn Văn X có đơn xin vắng mặt. Căn cứ vào khoản 1, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt anh Nguyễn Văn X là phù hợp.

Về nội dung tranh chấp:

Về hôn nhân: Chị P và anh X sống chung với nhau không có đăng ký kết hôn. Do đó, hôn nhân của anh, chị là không hợp pháp theo quy định tại khoản 1 Điều 9 của Luật hôn nhân và gia đình. Khoản 1 Điều 9 quy định: “Việc kết hôn phải được đăng ký và do cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện theo quy định của Luật này và pháp luật về hộ tịch. Việc kết hôn không được đăng ký theo quy định tại khoản này thì không có giá trị pháp lý”. Do đó, việc chung sống với nhau như vợ chồng giữa chị P và X không đăng ký kết hôn nên không công nhận chị Đinh Thị Trúc P và anh Nguyễn Văn X là vợ chồng theo quy định tại khoản 1 Điều 9, khoản 1 Điều 14 và khoản 2 Điều 53 của Luật Hôn nhân và gia đình là phù hợp.

Về nuôi con chung: Không có.

Về chia tài sản: Tài sản chung: đã thỏa thuận xong, không yêu cầu giải quyết, về nợ: Không có

Về án phí dân sự sơ thẩm:

Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án quy định: “Nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn không phụ thuộc vào việc Tòa án chấp nhận hay không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn”. Vậy, chị P phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm; Anh X không phải chịu tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a, khoản 1 Điều 35, điểm a, khoản 1 Điều 39, Điều 186, 188, 189, 190 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ vào khoản 1 Điều 9, khoản 1 Điều 14 và khoản 2 Điều 53 của Luật Hôn nhân và gia đình;

Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị Đinh Thị Trúc P và anh Nguyễn Văn X.

2. Về nuôi con chung: Không có.

3. Về chia tài sản: Tài sản chung: Đã thỏa thuận xong, không yêu cầu giải quyết; Về nợ: Không có

4. Về án phí dân sự sơ thẩm:

- Chị Đinh Thị Trúc P phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng), nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số: BN/2013 17132 ngày 09-11-2017 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp, chị Đinh Thị Trúc P đã nộp đủ tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

- Anh Nguyễn Văn X không phải chịu án phí sơ thẩm.

Báo cho nguyên đơn có mặt tại phiên tòa biết có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 26-12-2017). Riêng bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày niêm yết bản án theo quy định của pháp luật.

Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ