- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vụ án hôn nhân gia đình"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Võ Thị Ngọc O.
- Căn cứ chính? Điều 116 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 117 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUY PHƯỚC TỈNH BÌNH ĐỊNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 349/2023/HNGĐ-ST Ngày: 07-12-2023 V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUY PHƯỚC, TỈNH BÌNH ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Văn Công Minh.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Phạm Thành Nghĩa.
2. Ông Nguyễn Vĩnh Mậu.
- Thư ký phiên tòa: Ông Tô Tấn Cường, là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Định - Kiểm sát viên.
Ngày 07 tháng 12 năm 2023 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 234/2023/TLST-HNGĐ ngày 26 tháng 10 năm 2023, về việc“Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 294/2023/QĐXX-HNGĐ, ngày 20 tháng 11 năm 2023, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Võ Thị Ngọc O, sinh năm 1974; địa chỉ tổ H, khu V, phường T, thành phố Q, tỉnh Bình Định; có mặt.
- Bị đơn: Anh Nguyễn Hữu T, sinh năm 1977; địa chỉ thôn N, xã P, huyện T, tỉnh Bình Định; có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ngày 08 tháng 9 năm 2023, tại bản tự khai và tại phiên tòa, nguyên đơn chị Võ Thị Ngọc O trình bày: Chị và anh Nguyễn Hữu T kết hôn vào ngày 01 tháng 10 năm 2013 có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường T, thành phố Q, tỉnh Bình Định. Trước khi kết hôn giữa chị và anh T có tìm hiểu rồi tự nguyện đăng ký kết hôn chứ không ai ép buộc, lừa dối. Sau khi kết hôn vợ chồng chị sống hạnh phúc đến năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn xuất phát từ việc giữa chị và anh T có quá nhiều bất đồng quan điểm trong công việc và cuộc sống; chị và anh T không còn phù hợp với nhau về tính tình; anh T luôn kiếm chuyện, kình cãi với chị. Hiện nay chị và anh T không còn sống chung với nhau. Nay chị và anh T không còn tình cảm gì với nhau nên chị yêu cầu ly hôn với anh Nguyễn Hữu T.
Trong thời gian chung sống, vợ chồng chị có 01 người con chung là cháu Nguyễn Võ Thị Anh K, sinh ngày 18 tháng 6 năm 2017. Hiện nay chị đang trực tiếp nuôi dưỡng cháu K. Chị yêu cầu giao cháu K cho chị trực tiếp nuôi dưỡng. Chị không yêu cầu anh Nguyễn Hữu T cấp dưỡng nuôi con. Chị không yêu cầu Toà án giải quyết tài sản chung của vợ chồng chị. Hiện nay chị và anh Nguyễn Hữu T không phải thực hiện nghĩa vụ về tài sản đối với ai khác. Ngoài ra chị không trình bày và yêu cầu gì thêm. Tại phiên toà bị đơn anh Nguyễn Hữu T vắng mặt nhưng tại lời khai anh T trình bày: Về thời gian và điều kiện kết hôn giữa anh và chị Võ Thị Ngọc O như chị O đã trình bày là đúng. Sau khi kết hôn vợ chồng anh sống hạnh phúc chứ không có xảy ra mâu thuẫn gì nhưng vào năm 2020 anh và chị O không còn chung sống với nhau cho đến nay. Nay anh không đồng ý ly hôn với chị O. Vì tình nghĩa vợ chồng với nhau nên anh yêu cầu được đoàn tụ. Trong thời gian chung sống, vợ chồng anh có 01 người con chung là cháu Nguyễn Võ Thị Anh K, sinh ngày 18 tháng 6 năm 2017. Hiện nay chị O đang trực tiếp nuôi dưỡng cháu K. Nếu Toà án cho chị O ly hôn với anh thì anh đồng ý giao con cho chị O trực tiếp nuôi dưỡng. Anh không cấp dưỡng nuôi con. Anh không yêu cầu Toà án giải quyết tài sản chung của vợ chồng anh. Hiện nay anh và chị O không phải thực hiện nghĩa vụ về tài sản đối với ai khác. Ngoài ra anh không trình bày và yêu cầu gì thêm. Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án. Đối với Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; bị đơn đã được triệu tập hợp lệ đến phiên toà lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt.
Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Võ Thị Ngọc O, cho chị O được ly hôn với anh T; giao con chung của chị Võ Thị Ngọc O và anh Nguyễn Hữu T là cháu Nguyễn Võ Thị Anh K, sinh ngày 18 tháng 6 năm 2017 cho chị Võ Thị Ngọc O trực tiếp nuôi dưỡng. Chị Võ Thị Ngọc O không yêu cầu anh Nguyễn Hữu T cấp dưỡng nuôi con nên đề nghị Hội đồng xét xử không xét. Chị Võ Thị Ngọc O và anh Nguyễn Hữu T không tranh chấp về việc chia tài sản chung, nghĩa vụ về tài sản chung của vợ chồng và yêu cầu người khác thực hiện nghĩa vụ về tài sản nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết. Nguyên đơn chị Võ Thị Ngọc O phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về yêu cầu ly hôn theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Tranh chấp giữa các đương sự trong vụ án là tranh chấp về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con, chia tài sản khi ly hôn” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Tại thời điểm thụ lý vụ án và hiện nay bị đơn anh Nguyễn Hữu T cư trú tại thôn N, xã P, huyện T, tỉnh Bình Định. Căn cứ theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định.
Về thủ tục tố tụng: Bị đơn anh Nguyễn Hữu T vắng mặt nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Theo quy định tại khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bị đơn anh Nguyễn Hữu T.
Về nội dung vụ án:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Võ Thị Ngọc O và anh Nguyễn Hữu T kết hôn vào ngày 01 tháng 10 năm 2013 có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường T, thành phố Q, tỉnh Bình Định theo Giấy chứng nhận kết hôn số 161. Việc kết hôn giữa chị O và anh T tuân theo các điều kiện quy định tại Điều 9 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 nên hôn nhân giữa chị O và anh T là hợp pháp. Chị Võ Thị Ngọc O yêu cầu ly hôn với anh Nguyễn Hữu T vì cho rằng sau vợ chồng chị sống hạnh phúc đến năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn xuất phát từ việc giữa chị và anh T có quá nhiều bất đồng quan điểm trong công việc và cuộc sống; chị và anh T không còn phù hợp với nhau về tính tình; anh T luôn kiếm chuyện, kình cãi với chị. Anh Nguyễn Hữu T cho rằng sau khi kết hôn vợ chồng anh sống hạnh phúc chứ không có xảy ra mâu thuẫn gì nhưng vào năm 2020 anh và chị O không còn chung sống với nhau cho đến nay; nay chị O yêu cầu ly hôn với anh nhưng anh không đồng ý; vì tình nghĩa vợ chồng với nhau nên anh yêu cầu được đoàn tụ. Hội đồng xét xử xét thấy, sau khi thụ lý vụ án, Tòa án tiến hành thu thập các tài liệu, chứng cứ xác định nguyên nhân mâu thuẫn giữa chị O và anh T để tiến hành hòa giải nhằm mục đích hàn gắn tình cảm vợ chồng giữa chị O và anh T nhưng chị O và anh T không có bất kỳ biện pháp nào để hàn gắn tình cảm vợ chồng. Mặc dù anh T không đồng ý ly hôn và mong muốn được đoàn tụ nhưng anh T không đến Toà án để tham gia hoà giải và tại phiên toà anh T tiếp tục vắng mặt. Do đó có căn cứ chứng minh hôn nhân chị O và anh T đã lâm vào trình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Căn cứ các điều 51, 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử xét cho chị O được ly hôn với anh T. Về con chung: Chị Võ Thị Ngọc O và anh Nguyễn Hữu T thống nhất có 01 người con chung là cháu Nguyễn Võ Thị Anh K, sinh ngày 18 tháng 6 năm 2017. Chị O và anh T đều thống nhất giao con chung cho chị O trực tiếp nuôi dưỡng. Hội đồng xét xử xét thấy, hiện nay chị O đang trực tiếp nuôi dưỡng cháu K. Vì vậy để bảo đảm quyền lợi mọi mặt của cháu K, căn cứ vào Điều 81 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 giao cháu K cho chị O trực tiếp trông nôm, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng. Chị Võ Thị Ngọc O không yêu cầu anh Nguyễn Hữu T cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xét. Anh Nguyễn Hữu T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở, nhưng anh T không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con của chị O. Khi cần thiết chị Võ Thị Ngọc O và anh Nguyễn Hữu T đều có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi con, mức cấp dưỡng và phương thức cấp dưỡng nuôi con theo quy định tại các điều 84, 116, 117 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
Về tài sản chung và thực hiện nghĩa vụ về tài sản chung của vợ chồng: Chị Võ Thị Ngọc O và anh Nguyễn Hữu T đều không tranh chấp về việc chia tài sản chung, nghĩa vụ về tài sản chung của vợ chồng và yêu cầu người khác thực hiện nghĩa vụ về tài sản nên Hội đồng xét xử không xét.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/PL-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, nguyên đơn chị Võ Thị Ngọc O phải chịu số tiền 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm về yêu cầu ly hôn để sung vào công quỹ Nhà nước.
Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án phù hợp với nhận định trên của Hội đồng xét xử.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các điều 51, 56, 81, 82, 83, 84, 116, 117 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/PL-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Võ Thị Ngọc O.
2. Về quan hệ hôn nhân:
Cho chị Võ Thị Ngọc O được ly hôn với anh Nguyễn Hữu T.
Quan hệ hôn nhân giữa chị Võ Thị Ngọc O và anh Nguyễn Hữu T theo Giấy chứng nhận kết hôn số 161 do Ủy ban nhân dân phường T, thành phố Q, tỉnh Bình Định chứng nhận ngày 01 tháng 10 năm 2013 chấm dứt kể từ ngày bản án này có hiệu lực pháp luật.
3. Về con chung:
Giao con chung của chị Võ Thị Ngọc O và anh Nguyễn Hữu T là cháu Nguyễn Võ Thị Anh K, sinh ngày 18 tháng 6 năm 2017 cho chị Võ Thị Ngọc O trực tiếp trông nôm, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng. Hiện nay chị Võ Thị Ngọc O đang trực tiếp nuôi dưỡng cháu Nguyễn Võ Thị Anh K.
Chị Võ Thị Ngọc O không yêu cầu anh Nguyễn Hữu T cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xét.
Anh Nguyễn Hữu T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở, nhưng anh Nguyễn Hữu T không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con của chị Võ Thị Ngọc O. Khi cần thiết chị Võ Thị Ngọc O và anh Nguyễn Hữu T đều có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi con, mức cấp dưỡng và phương thức cấp dưỡng nuôi con theo quy định tại các điều 84, 116, 117 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
4. Về tài sản chung và thực hiện nghĩa vụ về tài sản chung của vợ chồng: Chị Võ Thị Ngọc O và anh Nguyễn Hữu T không tranh chấp về việc chia tài sản chung, nghĩa vụ về tài sản chung của vợ chồng và yêu cầu người khác thực hiện nghĩa vụ về tài sản nên Hội đồng xét xử không xét.
5. Về án phí dân sự sơ thẩm: Buộc chị Võ Thị Ngọc O phải chịu số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm về yêu cầu ly hôn để sung vào công quỹ Nhà nước nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí mà chị Võ Thị Ngọc O đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0001722 ngày 06 tháng 10 năm 2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định.
6. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn chị Võ Thị Ngọc O có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (Ngày 07 tháng 12 năm 2023). Bị đơn anh Nguyễn Hữu T vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt, niêm yết hợp lệ. Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phước, THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA tỉnh Bình Định;
- Chi cục thi hành án dân sự huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định;
- Ủy ban nhân phường Trần Quang Diệu, thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ vụ án;
- Lưu Văn thư.
Văn Công Minh THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phước, THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA tỉnh Bình Định;
- Chi cục thi hành án dân sự huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định;
- Ủy ban nhân phường Trần Quang Diệu, thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ vụ án;
- Lưu Văn thư.
Văn Công Minh THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Nơi nhận:
- Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phước, THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA tỉnh Bình Định;
- Chi cục thi hành án dân sự huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định;
- Ủy ban nhân dân thị trấn Tuy Phước, huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ vụ án;
- Lưu Văn thư.
Văn Công Minh
| Nơi nhận: - Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định; - Chi cục thi hành án dân sự huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định; - Ủy ban nhân dân xã Phước Hòa, huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án; - Lưu Văn thư. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Văn Công Minh |