vanban.org

Bản án 349/2023/HN-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Lê Thị H.

Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Lê Thị H được ly hôn với anh Phạm Thành Nghiệp. Về con chung: Giao con chung tên Phạm Thái T, sinh ngày 27/03/2008 cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng. Chị H không yêu cầu anh Nghiệp cấp dưỡng nuôi con chung. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vụ án ly hôn về mâu thuân gia"
  • Tòa quyết gì? Xử: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Lê Thị H.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN GÒ CÔNG TÂY

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH TIỀN GIANG
Bản án số: 349/2023/HN-ST
Ngày: 11/9/2023
V/v “Xin ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GÒ CÔNG TÂY, TỈNH TIỀN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Thanh Bình.

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Trần Thu Hồng.

Bà Nguyễn Thị Cẩm Hồng.

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Ngọc Thúy – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Gò Công Tây, tỉnh Tiền Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Công Tây tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Kim Hồng – Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 9 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Gò Công Tây xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 264/2023/TLST-HNGĐ ngày 23 tháng 6 năm 2023 về tranh chấp “Xin ly hôn”.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 125/2023/QĐST-HNGĐ ngày 10 tháng 8 năm 2023, Quyết định hoãn phiên tòa số 98/2023/QĐST-HN ngày 25 tháng 8 năm 2023, giữa các đương sự: + Nguyên đơn: Lê Thị H, sinh năm 1979. Địa chỉ: ấp Thạnh Lợi, xã Bình Tân, huyện Gò Công Tây, Tiền Giang. + Bị đơn: Phạm Thành N, sinh năm 1977. Địa chỉ: ấp Thạnh Lợi, xã Bình Tân, huyện Gò Công Tây, Tiền Giang.

(Chị H có mặt, anh N vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn xin ly hôn, bản tự khai, biên bản hòa giải nguyên đơn chị H trình bày:

Chị và anh N do tìm hiểu tự nguyện tiến đến hôn nhân có tổ chức cưới năm 2006 và có đăng ký kết hôn được Uỷ ban nhân dân xã Bình Tân cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 16/12/2007.

Thời gian đầu vợ chồng sống hạnh phúc đến năm 2014, do anh N đi làm phát sinh nhậu nhẹt về chửi mắng, đánh đập chị nhiều lần, con chị thấy anh N đánh chị quá nên con đánh lại anh Nghiệp thì anh N báo Công an giải quyết, từ đó làm cho con chị nghỉ học sớm đi làm ở Vũng Tàu. Chị đã cho anh nhiều cơ hội nhưng anh không thay đổi, thậm chí anh còn nhậu về kiếm chuyện, chửi mắng mẹ ruột anh N và mẹ chị, chị không thể chịu đựng được nên anh chị đã ly thân 07 tháng nay. Chị đã ra ngoài thuê nhà trọ sống 07 tháng nay.

Nay, chị thấy không thể chung sống với anh N được nữa nên yêu cầu được ly hôn với anh N.

Về con chung: Chị yêu cầu được nuôi con chung tên Phạm Thái T, sinh ngày 27/03/2008, hiện nay cháu đi làm ở Vũng Tàu. Chị không yêu cầu anh N cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Bị đơn anh Phạm Thành N vắng mặt, mặc dù được Tòa án tống đạt hợp lệ giấy triệu tập, thông báo thụ lý vụ án, các thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt không lý do và cũng không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của chị H.

* Ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát:

Về việc tuân theo pháp luật: Việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử; Thư ký việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đều tuân thủ đúng quy định pháp luật.

Về việc giải quyết vụ kiện: Áp dụng các Điều 51, 56, 57, 58, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, đề nghị Hội đồng xét xử: Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị H với anh N. Về con chung: Giao cháu Phạm Thái T, sinh ngày 27/3/2008 cho chị Hiền trực tiếp nuôi dưỡng. Anh N không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Qua nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng, quan hệ tranh chấp: Chị Lê Thị H và anh Phạm Thành N tự nguyện tiến tới hôn nhân, tổ chức cưới năm 2006, có đăng ký kết hôn được Ủy ban nhân dân xã Bình Tân, huyện Gò Công Tây Tiền Giang cấp Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 139 ngày 16/12/2007 là hôn nhân hợp pháp. Nay tranh chấp được xem xét giải quyết theo Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam năm 2014 và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định Điều 28, 35 Bộ luật tố tụng dân sự.

Bị đơn anh Phạm Thành N đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đối với anh N

Về nội dung:

Tại phiên tòa, chị H vẫn giữ nguyên yêu cầu xin ly hôn với anh N nguyên nhân do anh N đi làm phát sinh nhậu nhẹt về chửi mắng, đánh đập chị nhiều lần, con chị thấy anh Nghiệp đánh chị quá nên con đánh lại anh N thì anh N báo Công an giải quyết, từ đó làm cho con chị nghỉ học sớm đi làm ở Vũng Tàu, thậm chí anh còn nhậu về kiếm chuyện, chửi mắng mẹ ruột anh N và mẹ chị, chị không thể chịu đựng được nên anh chị đã ly thân 07 tháng nay.

Xét thấy mâu thuẫn ban đầu không lớn nhưng anh chị không khắc phục để kéo dài làm ảnh hưởng hạnh phúc vợ chồng. Tòa án nhiều lần mời anh N đến hòa giải đoàn tụ nhưng anh không đến, điều này thể hiện anh N không còn thiết tha gì đến tình cảm, hạnh phúc vợ chồng và nguyên nhân mâu thuẫn chị H trình bày là có xảy ra. Do đó, yêu cầu ly hôn của chị H là có cơ sở cần được chấp nhận phù hợp với Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam năm 2014.

Về con chung: Anh chị có một con chung tên Phạm Thái T, sinh ngày 27/03/2008. Chị H yêu cầu được nuôi dưỡng con chung. Xét thấy, cháu T mặt dù chưa đến độ tuổi trưởng thành nhưng cháu đã tự lao động được, nguyện vọng của cháu được sống với mẹ nên cần giao cháu T cho chị H nuôi dưỡng là phù hợp với Điều 81, 82 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Người không trực tiếp nuôi con được quyền thăm nom chăm sóc con chung, không ai được quyền ngăn cản.

Về cấp dưỡng: Do chị H không yêu cầu anh N cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

Về tài sản chung và nợ chung: Chị H không tranh chấp nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Xét lời phát biểu đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát có cơ sở được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về án phí: Chị H phải chịu án phí theo quy định tại Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

- Áp dụng các Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình;

- Căn cứ Điều 227, Điều 228, Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự;

- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Lê Thị H.

- Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Lê Thị H được ly hôn với anh Phạm Thành Nghiệp.

- Về con chung: Giao con chung tên Phạm Thái T, sinh ngày 27/03/2008 cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng. Chị H không yêu cầu anh Nghiệp cấp dưỡng nuôi con chung.

Người không trực tiếp nuôi con chung có quyền thăm nom, chăm sóc con chung không ai được quyền ngăn cản.

Về tài sản chung và nợ chung: Chị H không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về án phí hôn nhân sơ thẩm:

Chị Lê Thị H phải chịu số tiền 300.000đồng án phí hôn nhân sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng 300.000đồng theo biên lai số 0011512 ngày 23/6/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Gò Công Tây. Như vậy, chị H đã nộp xong án phí.

Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng anh N kháng cáo kể từ ngày Tòa án tống đạt hoặc niêm yết bản án hợp lệ.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án Dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án Dân sự.

Cỡ chữ