- Tranh chấp gì? án hành chính — "Người khởi kiện: Ông Trần Hoàng T và bà Nguyễn Thị V; địa chỉ: TDP D, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận m t phần kháng cáo của đại diện theo ủy quyền của người bị
- Căn cứ chính? Điều 4 Nghị định số 01/2017/NĐ-CP Sửa đổi, bổ sung một số nghị định…; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 19 Nghị định số 47/2014/NĐ-CP Quy định về bồi thường, hỗ trợ, t…
| TẠI ĐÀ NẴNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 349/2023/HC-PT Ngày: 20/9/2023 V/v: “Khiếu kiện quyết định hành chính và hành vi hành chính trong lĩnh vực đất đai” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: bà Võ Thị Ngọc Dung
Các Thẩm phán:
ông Võ Ngọc Thông
ông Phạm Ngọc Thái
- Thư ký phiên tòa: ông Phạm Minh Hoàng, Thư ký Tòa án cấp cao tại
Đà Nẵng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng tham gia phiên
toà: ông Quách Hòa Bình - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 9 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà
Nẵng, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hành chính thụ lý số 156/2023/TLPT-HC ngày 24 tháng 7 năm 2023 về việc: “Khiếu kiện quyết định hành chính và hành vi hành chính trong lĩnh vực đất đai”.
Do Bản án hành chính sơ thẩm số 74/2023/HC-ST ngày 24/5/2023 của
Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 3188/2023/QĐ-PT ngày
07/9/2023, giữa các đương sự:
- Người khởi kiện: Ông Trần Hoàng T và bà Nguyễn Thị V; địa chỉ: TDP
D, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk; bà V vắng mặt, ông T có mặt.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp: Ông Nguyễn Văn L – Luật sư văn
phòng L1, Đoàn luật sư tỉnh Đ; địa chỉ: Số D C, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk; có mặt.
- Người bị kiện: Ủy ban nhân dân thành phố B, tỉnh Đắk Lắk; địa chỉ: A L,
thành phố B, tỉnh Đắk Lắk.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Lê Đại T1; chức vụ: Phó Chủ tịch
UBND thành phố B; vắng mặt.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp: Ông Phạm Văn N; chức vụ:
Trưởng phòng Kỹ thuật, giải phóng mặt bằng Trung tâm phát triển quỹ đất Đắk Lắk; có đơn xin xét xử vắng mặt.
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
+ Trung tâm phát triển quỹ đất tỉnh Đắk Lắk; địa chỉ: Số F C, phường T,
thành phố B, tỉnh Đắk Lắk.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Phan Hải S; chức vụ: Phó phòng Kỹ
thuật – Bồi thường giải phóng mặt bằng, Trung tâm P; có mặt.
+ Ủy ban nhân dân phường T, thành phố B; địa chỉ: Số F N; thành phố B,
tỉnh Đắk Lắk; vắng mặt.
+ Công ty TNHH MTV C; địa chỉ: Số C N, phường T, Tp ., tỉnh Đắk Lắk;
vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Người khởi kiện trình bày:
Ngày 14/06/2015, vợ chồng tôi nhận chuyển nhượng 0,5ha cà phê liên kết
của ông Nguyễn Tiến B, tại phường T, thành phố B; lô đất này do ông B hợp đồng liên kết sản xuất cà phê v i Công ty TNHH MTV C (Gọi tắt là Công ty C theo Hợp đồng kinh tế số: 130.Đ1/2014/HĐ ngày 10/06/2014. Việc sang nhượng vườn cà phê có xác nhận của ông Kiều Đại T2, Đ i trưởng Đ i 1 (Đ i sản xuất của Công ty và Giám đốc Công ty C xác nhận theo Biên bản đối chiếu và kê khai diện tích đất vào ngày 27/06/2017. Ngày 06/06/2022, UBND thành phố B ban hành Quyết định số: 5788/QĐ-UBND về việc Phê duyệt phương án bồi thường, h trợ và chi phí t chức thực hiện công tác bồi thường, h trợ khi Nhà nư c thu hồi đất để xây dựng công tr nh: Hạ tầng giao thông Khu dân cư phía Nam tại phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk, đợt 1 (Quyết định số 5788 . Trong đó: h gia đ nh tôi bị thu hồi 100% diện tích đất là 4.414,3m2; kinh phí bồi thường, h trợ h gia đ nh tôi là: 746.031.282, đồng.
Gia đ nh tôi không đồng ý v i Quyết định số 5788, bởi lẽ:
- Đối v i chi phí đầu tư vào đất còn lại không được bồi thường:
Tại khoản 2 Điều 3 của Quy định ban hành k m theo Quyết định số
14/2022/QĐ-UBND ngày 15/03/2022 của UBND tỉnh Đ về bồi thường, h trợ, tái định cư khi Nhà nư c thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk, quy định: “Mức bồi thường chi phí đầu tư vào đất còn lại bằng 10% giá trị tính theo Bảng giá đất do Ủy ban nhân dân tỉnh Q nhân với diện tích đất thu hồi”. H gia đ nh tôi là đối tượng bị thu hồi đất, tại thời điểm thu hồi đất hợp đồng thuê khoán đất giữa h ông Nguyễn Tiến B, h ông Nguyễn Hoàng T3 v i Công ty C còn hiệu lực hợp đồng c thời hạn đến ngày 31 12 2038), đủ điều kiện để được Nhà nư c bồi thường chi phí đầu tư vào đất còn lại khi Nhà nư c thu hồi 4.414,3m2 đất, nhưng UBND thành phố B không thực hiện bồi thường Chi phí đầu tư vào đất còn lại cho h gia đ nh tôi là không đúng v i quy định của pháp luật;
- Đối v i giao đất theo h nh thức giao đất có thu tiền sử dụng đất không
thông qua đấu giá quyền sử dụng đất:
H gia đ nh tôi bị thu hồi đất, bị giải t a nhà, phải di chuyển ch ở, không
có nhà ở, đất ở khác nhưng chưa được UBND thành phố B giao đất có thu tiền sử dụng đất không thông qua đấu giá quyền sử dụng đất để xây dựng nhà ở m i.
- Đối v i h trợ tiền thuê nhà ở trong thời gian tạo lập nơi ở m i:
Tại Điều 16 Quyết định số 39/2014/QĐ-UBND ngày 10/11/2014 của
UBND tỉnh Đ, nay được sửa đ i, b sung tại khoản 1 Điều 9 Quyết định số: 14/2022/QĐ-UBND ngày 15/03/2022 của UBND tỉnh Đ, quy định: Thời gian hỗ trợ tiền thuê nhà được tính t thời đi m bàn giao m t bằng đến khi c th ng báo nhận đất tái định cư cộng thêm 6 tháng đ xây nhà”.
Quyết định số 5788 đ h trợ tiền thuê nhà ở cho h gia đ nh tôi được 06
tháng, chưa h trợ tiền thuê nhà ở đối v i thời gian t khi bàn giao mặt bằng đến khi nhận đất tái định cư.
- H trợ n định đời sống và sản sản xuất:
H gia đ nh tôi có 04 nhân khẩu là h gia đ nh đang sử dụng đất do nhận
giao khoán đất sử dụng vào mục đích nông nghiệp; đang trực tiếp sản xuất nông nghiệp; có nguồn thu nhập n định t sản xuất nông nghiệp; bị thu hồi 100% diện tích đất nông nghiệp đang sản xuất, phải giải t a nhà và di chuyển nơi ở; có hợp đồng giao khoán sử dụng đất nhưng không được UBND thành phố B h trợ n định đời sống và sản sản xuất là không đúng v i quy định của pháp luật, được quy định tại điểm a khoản 2 Điều 83 Luật Đất đai năm 2013; điểm d khoản 1 Điều 19 Nghị định số: 47/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính Phủ, được sửa đ i, b sung tại khoản 5 Điều 4 Nghị định số 01/2017/NĐ-CP ngày 06/01/2017 của Chính Phủ; Điều 17 Quyết định số: 39/2014/QĐ-UBND ngày 10/11/2014 của UBND tỉnh Đ, nay được sửa đ i, b sung tại điểm b, c Điều 17 Quyết định số: 14/2022/QĐ-UBND ngày 15/03/2022 của UBND tỉnh Đ.
- H trợ đào tạo, chuyển đ i nghề và t m kiếm việc làm:
H gia đ nh tôi đang sử dụng đất nhận khoán vào mục đích nông nghiệp,
đang trực tiếp sản xuất nông nghiệp, bị mất việc làm khi Nhà nư c thu hồi đất, nhưng không được UBND thành phố B h trợ đào tạo, chuyển đ i nghề và t m kiếm việc làm là không đúng v i quy định của pháp luật, quy định tại điểm b khoản 2 Điều 83 Luật Đất đai 2013; khoản 1 Điều 20 Nghị định số 47/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính Phủ, nay được sửa đ i, b sung tại khoản 6 Điều 4 Nghị định số 01/2017/NĐ-CP ngày 06/01/2017 của Chính Phủ; Điều 18 Quyết định số 39/2014/QĐ-UBND ngày 10/11/2014 của UBND tỉnh Đ, nay được sửa đ i, b sung tại khoản 1,2 Điều 18 Quyết định số 14/2022/QĐ-UBND ngày 15/03/2022 của UBND tỉnh Đ.
- Tiền l i chậm trả tiền bồi thường:
Quyết định số 5788 không thực hiện thanh toán thêm khoản tiền l i bằng
mức tiền chậm n p theo quy định của Luật quản lý thuế trên số tiền chậm trả và thời gian chậm trả cho h ông Trần Hoàng T là không đúng v i quy định tại khoản 1, 2 Điều 93 Luật Đất đai 2013.
V vậy, tôi khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk tuyên:
- Hủy m t phần Quyết định số 5788 và bu c UBND thành phố B ban hành
lại quyết định phê duyệt phương án bồi thường, h trợ b sung cho h ông Trần Hoàng T, bà Nguyễn Thị V khi nhà nư c thu hồi đất, cụ thể: Bồi thường chi phí đầu tư vào đất còn lại đối v i diện tích 4.414,3m2 đất bị thu hồi tại thửa đất số 96, tờ trích đo bản đồ số TĐ02/2021, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk; giao 01 thửa đất ở tại thành phố B để xây dựng nhà ở m i, h nh thức giao đất có thu tiền sử dụng đất không thông qua đấu giá quyền sử dụng đất; h trợ tiền thuê nhà trong thời gian tạo lập nơi ở m i tính t thời điểm bàn giao mặt bằng cho đến khi nhận thông báo giao đất tái định cư; h trợ n định đời sống và sản xuất; h trợ đào tạo chuyển đ i nghề và t m kiếm việc làm; h trợ tiền l i suất chậm trả đối v i số tiền bồi thường 713.336.000 đồng, tính t ngày 04/01/2017 đến ngày h gia đ nh chúng tôi nhận tiền là ngày 07/10/2022; tiền bồi thường h trợ b sung chậm trả tính t ngày 04/01/2017 đến ngày h gia đ nh chúng tôi nhận được tiền b sung.
- Người đại diện theo ủy quyền của người bị kiện và người đại diện
theo ủy quyền của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Trung tâm phát triển quỹ đất tỉnh Đắk Lắk trình bày:
Ông Trần Hoàng T sử dụng thửa đất số 96, tờ trích đo bản đồ số
TĐ02/2021, diện tích 4.414,3m2 có nguồn gốc nhận chuyển nhượng t ông Nguyễn Tiến B ng Nguyễn Tiến B hợp đồng liên kết sản xuất đất trồng cà phê với Công ty C tại Hợp đồng số 130 Đ1 2014 HĐ). Năm 2017, UBND tỉnh Đ thu hồi đất của Công ty C do C ng ty giải th ) giao Trung tâm phát triển quỹ đất Đắk Lắk quản lý tại Quyết định số 07/QĐ-UBND ngày 04/01/2017, trong đó có thửa đất do ông Trần Hoàng T đang sử dụng.
Năm 2019, UBND tỉnh phê duyệt Báo cáo nghiên cứu khả thi thực hiện Dự
án Hạ tầng giao thông Khu dân cư phía Nam tại phường T tại Quyết định số 3191/QĐ-UBND ngày 31/10/2019, trên cơ sở đó Trung tâm phát triển quỹ đất Đắk Lắk lập phương án bồi thường, h trợ và tái định cư khi Nhà nư c thu hồi đất để thực hiện dự án nêu trên và được UBND thành phố B phê duyệt tại Quyết định số 5788, phê duyệt điều chỉnh tại Quyết định số 10482/QĐ-UBND ngày 23/12/2022, trong đó kinh phí bồi thường, h trợ cho ông Trần Hoàng T là 745.136.594 đồng; ông Trần Hoàng T đ nhận đủ số tiền nêu trên vào ngày 07/10/2022, hiện nay chưa bàn giao mặt bằng thửa đất thu hồi.
- Đối v i n i dung ông Trần Hoàng T khởi kiện yêu cầu bồi thường chi phí
đầu tư còn lại vào đất đối v i diện tích 4.414,3m2 tại thửa đất số 96, tờ trích đo bản đồ số TĐ02/2021, phường T, thành phố B: Ông Trần Hoàng T sử dụng đất có nguồn gốc nhận chuyển nhượng t ông Nguyễn Tiến B, xây dựng nhà ở và vật kiến trúc trái phép trên đất nông nghiệp liên kết, không được Công ty C ký kết hợp đồng giao khoán, hợp đồng liên kết sản xuất cà phê trên diện tích đất thu hồi nêu trên nên không đủ điều kiện được áp dụng khoản bồi thường chi phí đầu tư vào đất còn lại theo quy định.
- Đối v i n i dung ông Trần Hoàng T khởi kiện yêu cầu giao 01 thửa đất ở
theo h nh thức giao đất có thu tiền sử dụng đất không thông qua đấu giá quyền sử dụng đất: Ông Trần Hoàng T sử dụng đất có nguồn gốc nhận chuyển nhượng t ông Nguyễn Tiến B, xây dựng nhà ở và vật kiến trúc trên đất nông nghiệp liên kết, phải giải toả nhà ở khi Nhà nư c thu hồi đất, kết quả xác minh trên địa bàn thành phố B th h ông Trần Hoàng T không còn nhà ở, đất ở nào khác. Trung tâm phát triển quỹ đất Đắk Lắk đ có Báo cáo số 123/BC-TTPTQĐĐL ngày 16/12/2022 đề xuất UBND thành phố B giao đất có thu tiền sử dụng đất cho h ông Trần Hoàng T và các trường hợp khác có điều kiện tương tự. Do đó, hiện nay việc giao đất có thu tiền sử dụng đất cho gia đ nh ông đang đợi kết quả giải quyết của UBND thành phố B.
- Đối v i n i dung ông Trần Hoàng T khởi kiện yêu cầu h trợ tiền thuê
nhà trong thời gian chờ tạo lập ch ở m i: Tại Quyết định số 5788 đ phê duyệt khoản kinh phí này cho gia đ nh ông Trần Hoàng T v i số tiền: 28.800.000 đồng. Số tiền này hiện nay chưa chi trả v lý do h gia đ nh chưa bàn giao mặt bằng thửa đất thu hồi cho Nhà nư c.
- Đối v i n i dung ông Trần Hoàng T khởi kiện yêu cầu h trợ n định đời
sống và sản xuất, h trợ đào tạo chuyển đ i nghề và t m kiếm việc làm: Ông Trần Hoàng T không có hợp đồng liên kết, hợp đồng nhận khoán v i Công ty C. Căn cứ khoản 5, 6 Điều 4 Nghị định 01/2017/NĐ-CP ngày 06/01/2017, ông Trần Hoàng T không thu c trường hợp được h trợ n định đời sống và sản xuất; h trợ chuyển đ i nghề và t m kiếm việc làm.
- Về h trợ tiền l i suất chậm trả đối v i số tiền bồi thường, h trợ được
phê duyệt tính t thời điểm ban hành quyết định thu hồi đất đến ngày chi trả tiền bồi thường, h trợ: Ngày 06/6/2022, UBND thành phố B ban hành Quyết định số 5788; đến ngày 06/10/2022 Trung tâm phát triển quỹ đất Đắk Lắk đ phối hợp v i UBND phường T tiến hành chi trả tiền bồi thường, h trợ đối v i gia đ nh ông Trần Hoàng T, ông T đ nhận tiền và cam kết bàn giao mặt bằng thửa đất thu hồi. Như vậy, thời gian chi trả tiền bồi thường, h trợ cho gia đ nh ông chậm so v i ngày Quyết định phê duyệt phương án, n i dung này Trung tâm phát triển quỹ đất Đắk Lắk đ có Tờ tr nh số 126/TTr-TTPTQĐĐL ngày 29/12/2022 tr nh UBND thành phố Buôn Ma Thu t thẩm định, phê duyệt phương án b sung kinh phí do chậm chi trả tiền bồi thường; Sau khi được UBND thành phố B phê duyệt phương án sẽ thực hiện chi trả tiền cho h gia đ nh theo quy định.
Phương án bồi thường, h trợ đối v i ông Trần Hoàng T do Trung tâm phát
triển quỹ đất Đắk Lắk lập, được UBND thành phố B phê duyệt tại Quyết định số 5788, phê duyệt điều chỉnh tại Quyết định số 10482/QĐ-UBND ngày 23/12/2022 đ đảm bảo quy định của pháp luật. Do đó các n i dung khởi kiện của ông Trần Hoàng T là không có cơ sở xem xét, giải quyết. Đề nghị Toà án nhân dân tỉnh Đắk Lắk bác đơn của ông Trần Hoàng T.
- Người c quyền lợi và nghĩa vụ liên quan Ủy ban nhân dân phường T và
Công ty TNHH MTV C đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng đều vắng m t và kh ng c ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của người khởi kiện:
Tại Bản án hành chính sơ thẩm số 74/2023/HC-ST ngày 24/5/2023 của
Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk đã quyết định:
Căn cứ các khoản 1, 2, 3, 4 Điều 3; khoản 1 Điều 30; Điều 32; khoản 1
Điều 115; điểm a khoản 2 Điều 116; khoản 1 Điều 157; khoản 1 Điều 158; điểm b khoản 2 Điều 193; khoản 1 Điều 348 Luật tố tụng hành chính;
Áp dụng Luật đất đai 2013; Nghị định số 01/2017/NĐ-CP ngày 06/01/2017
của Chính Phủ sửa đ i b sung m t số Nghị định quy định chi tiết thi hành luật đất đai; Nghị định số 47/2014/NĐ-CP về bồi thường, h trợ, tái định cư khi Nhà nư c thu hồi đất; Quyết định số 39/2014/QĐ-UBND ngày 10/11/2014 của UBND tỉnh Đ về việc ban hành quy định về bồi thường, h trợ, tái định cư khi nhà nư c thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc h i quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, n p, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên:
[1] Chấp nhận m t phần yêu cầu khởi kiện của ông Trần Hoàng T, bà
Nguyễn Thị Vân
Tuyên hủy m t phần Quyết định số 5788/QĐ-UBND ngày 06/6/2022 và
m t phần Quyết định số 10482/QĐ-UBND ngày 23/12/2022 của UBND thành phố B về việc phê duyệt phương án và phê duyệt phương án điều chỉnh bồi thường, h trợ và chi phí t chức thực hiện công tác bồi thường, h trợ khi nhà nư c thu hồi đất để xây dựng công tr nh: Hạ tầng giao thông Khu dân cư phía Nam tại phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk (đợt 1 , đối v i h ông Trần Hoàng T, bà Nguyễn Thị V. Bu c UBND thành phố B phải ban hành lại Quyết định về việc phê duyệt phương án bồi thường, h trợ b sung khi Nhà nư c thu hồi đất đối v i phần h trợ bồi thường chi phí đầu tư vào đất; giao 01 thửa đất ở có thu tiền sử dụng đất; h trợ n định đời sống; đào tạo, chuyển đ i nghề và t m kiếm việc làm cho h ông Trần Hoàng T, bà Nguyễn Thị V theo quy định của pháp luật.
Bu c Ủy ban nhân dân thành phố B phải thanh toán cho h ông Trần
Hoàng T, bà Nguyễn Thị V các khoản tiền l i chậm trả theo mức tiền chậm n p theo quy định của Luật quản lý thuế, cụ thể: Đối v i số tiền 713.336.000 đồng được tính t ngày 07/7/2022 đến ngày 06/10/2022; đối v i số tiền được chấp nhận yêu cầu khởi kiện bu c U phải phê duyệt phương án bồi thường, h trợ (chi phí đầu tư vào đất; n định đời sống; đào tạo, chuyển đ i nghề và t m kiếm việc làm tính t ngày 07/7/2022 đến ngày h ông T, bà V nhận được số tiền trên.
[2] Bác yêu cầu khởi kiện của ông Trần Hoàng T, bà Nguyễn Thị V về việc
bu c UBND thành phố B h trợ tiền thuê nhà ở tính t khi bàn giao mặt bằng đến khi có thông báo nhận đất tái định cư; thanh toán tiền l i suất chậm trả đối v i số tiền bồi thường 713.336.000 đồng và tiền bồi thường h trợ b sung chậm trả tính t ngày 04/01/2017 đến ngày 06/7/2022.
Ngoài ra Bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo theo quy
định của pháp luật.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 05/6/2023, ông Lê Đại T1 là người đại diện
theo ủy quyền của người bị kiện có đơn kháng cáo Bản án hành chính sơ thẩm, đề nghị cấp phúc thẩm không chấp nhận việc h trợ bồi thường chi phí đầu tư vào đất; h trợ n định đời sống; h trợ đào tạo chuyển đ i nghề và t m kiếm việc làm; giao 01 thửa đất ở có thu tiền sử dụng đất cho h ông Trần Hoàng T, bà Nguyễn Thị V; không bu c UBND thành phố Buôn Ma T5 phải thanh toán cho h ông T, bà V số tiền chậm trả bồi thường, h trợ b sung tính t ngày 07/7/2022 đến ngày h ông T, bà V nhận đủ số tiền này.
*Tại phiên tòa phúc thẩm:
Ý kiến của Người bị kiện: giữ nguyên kháng cáo.
Ý kiến của Người khởi kiện: giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng tr nh bày quan điểm:
- Về việc tuân theo pháp luật t khi thụ lý vụ án, quá tr nh giải quyết vụ án
và tại phiên tòa, Thẩm phán, H i đồng xét xử và Thư ký phiên tòa đ thực hiện đảm bảo đúng các quy định của B luật Tố tụng hành chính.
- Về n i dung: Đề nghị HĐXX chấp nhận phần kháng cáo của người bị
kiện: không chấp nhận các h trợ bồi thường chi phí đầu tư vào đất; h trợ n định đời sống, h trợ đào tạo chuyển đ i nghề và t m kiếm việc làm; không bu c UBND thành phố B phải thanh toán cho h ông T, bà V số tiền h trợ b sung tính t ngày 07/7/2022 đến ngày h ông T, bà V nhận đủ số tiền này v không có cơ sở. Bác m t phần yêu cầu kháng cáo: không bu c UBND thành phố B phải thanh toán cho h ông T, bà V số tiền chậm trả bồi thường v số tiền này UBND thành phố đ hoàn thành việc chi trả; chấp nhận yêu cầu khởi kiện của người khởi kiện giao 01 thửa đất ở có thu tiền sử dụng đất như Bản án sơ thẩm đ tuyên.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm
tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa; H i đồng xét xử nhận định:
Tố tụng:
Phiên tòa phúc thẩm xét xử vắng mặt người bị kiện và người có quyền
lợi, nghĩa vụ liên quan Ủy ban nhân dân phường T, thành phố B và Công ty TNHH MTV C theo Điều 225 Luật Tố tụng hành chính.
Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk thụ lý, giải quyết đúng đối tượng, thẩm
quyền, còn thời hiệu quy định tại Điều 30, Điều 32, Điều 116 Luật Tố tụng hành chính.
Kháng cáo của Người bị kiện đúng thời hạn, hợp lệ, Tòa án thụ lý giải
quyết theo tr nh tự thủ tục phúc thẩm.
Nội dung:
Nguồn gốc diện tích đất bị thu hồi: ngày 14/6/2015, ông Trần Hoàng
T, bà Nguyễn Thị V nhận chuyển nhượng 0.5 ha đất trồng cà phê t ông Nguyễn Tiến B. Diện tích đất này là m t phần trong diện tích đất của ông B nhận hợp đồng giao khoán đất liên kết sản xuất cà phê v i Công ty TNHH MTV C (Công ty C theo Hợp đồng số 130/Đ1/2014/HĐ ngày 10/6/2014, diện tích đất giao khoán 13.635m2, thửa đất số 146, tờ bản đồ số 07 (nay là thửa đất số 96, tờ trích đo bản đồ số TĐ02/2012 tại phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk; thời hạn hợp đồng t ngày 10/6/2014 đến 31/12/2038.
Đối v i Hợp đồng chuyển nhượng ngày 14/6/2016: Ngày 14/6/2015,
ông Nguyễn Tiến B chuyển nhượng cho ông Trần Hoàng T, bà Nguyễn Thị V m t phần diện tích đất giao khoán là 0,5 ha, có lập giấy chuyển nhượng được ông Kiều Đại T2 - Đ i trưởng Đ i 1 (Đ i sản xuất của Công ty C) xác nhận. Sau khi nhận chuyển nhượng, ông T và bà V trực tiếp sản xuất trên đất và thực hiện nghĩa vụ tài chính v i Công ty C, xây nhà và sinh sống trên đất nhưng không bị Công ty C phản đối, thực hiện các thủ tục thu hồi theo như quy định tại điểm a khoản 2 Điều 2 của Hợp đồng Kinh tế liên kết sản xuất cà phê số 130/Đ1/2014/HĐ ngày 10/6/2014 giữa ông B và Công ty C về quyền của bên giao khoán: “Ki m tra, giám sát việc thực hiện hợp đồng khoán, bảo đảm việc thực hiện đúng pháp luật về đất đai khi phát hiện đất giao khoán bị chuy n đổi trái phép thì tiến hành các biện pháp, thủ tục theo quy định đ thu hồi diện tích giao khoán đã bị chuy n nhượng trái phép”. HĐXX xét thấy, Hợp đồng chuyển nhượng diện tích đất liên kết nêu trên giữa Ông Nguyễn Tiến B và ông Trần Hoàng T, bà Nguyễn Thị V chưa đảm bảo về h nh thức nhưng thực tế được Công ty C đ th a nhận và xác nhận theo Biên bản đối chiếu và kê khai diện tích đất vào ngày 27/06/2017, không trái v i điểm i khoản 1 Điều 3 của Hợp đồng kinh tế số 130/Đ1/2014/HĐ ngày 10/6/2014, như nhận định của Tòa án sơ thẩm.
Xét các n i dung kháng cáo có tại Quyết định số 5788/QĐ-UBND
ngày 06/6/2022 (Quyết định số 5788 và Quyết định số 10482/QĐ-UBND ngày 23/12/2022 (Quyết định số 10482 của UBND thành phố B:
Đối v i yêu cầu bồi thường chi phí đầu tư vào đất đối v i diện tích
đất bị thu hồi: ngày 30/9/2016, Quyết định giải thể công ty có hiệu lực, đến ngày 04/01/2017, UBND tỉnh Đ ban hành Quyết định 07/QĐ-UBND thu hồi diện tích đất của h ông T và bà V. Tại biên bản kiểm đếm ngày 29/9/2021 của Trung tâm P thể hiện diện tích đo đạc thực tế đất thu hồi của h Trần Hoàng T, bà Nguyễn Thị V là 4.414,3m2; không có cây cà phê mà toàn là cây trồng khác và tại phiên tòa ông T khai đ phá cây cà phê t năm 2018. Trong khi đó mục đích của Hợp đồng giao khoán đất là liên kết sản xuất cà phê, nên Tòa án sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện này là không phù hợp.
Về yêu cầu h trợ n định đời sống, h trợ đào tạo chuyển đ i nghề
và t m kiếm việc làm: Nguồn gốc đất bị thu hồi của h ông Trần Hoàng T như phân tích tại mục [2.2]; UBND phường T, thành phố B xác nhận h ông Trần Hoàng T là h trực tiếp sản xuất nông nghiệp, có nguồn thu nhập n định t sản xuất nông nghiệp trên đất đó; tại Điều 1 tại các Quyết định 5788 và Quyết định 10482 đều xác định h gia đ nh ông T có nguồn gốc nhận khoán của Công ty. Do đó, ông Trần Hoàng T, bà Nguyễn Thị V thu c đối tượng được h trợ khi Nhà nư c thu hồi đất theo quy định Điều 83 Luật Đất đai năm 2013; tại điểm d Điều 19 Nghị định 47/2017/NĐ-CP ngày 15/5/2014; khoản 5, khoản 6 Điều 4 Nghị định 01/2017/NĐ-CP ngày 06/01/2017 của Chính phủ và khoản 2 Điều 3 Quyết định số 14/2022/QĐ-CP ngày 15/3/2022 của UBND tỉnh Đ ban hành quy định về bồi thường, h trợ, tái định cư, khi Nhà nư c thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk.
Về giao đất có thu tiền sử dụng đất để n định đời sống: H ông
Trần Hoàng T không bị thu hồi đất ở nên không đủ điều kiện được giao đất tái định cư theo quy định tại Khoản 1 Điều 79 Luật đất đai. Tuy nhiên, xét thấy ông Trần Hoàng T có xây dựng nhà ở, được bồi thường tài sản là nhà ở trong số tiền 713.336.000 đồng, phải giải toả toàn b nhà ở khi nhà nư c thu hồi đất, ông T không còn nhà ở, đất ở nào khác trên địa bàn thành phố B, không bị cơ quan Nhà nư c có thẩm quyền lập biên bản xử phạt. Căn cứ khoản 2 Điều 79 Luật đất đai, khoản 4 Điều 6 Nghị định số 47/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ và Điều 5 Quyết định 14/2022/QĐ-UBND ngày 15/3/2022 của UBND tỉnh Đ th ông T có đủ điều kiện để được giao m t thửa đất ở làm nhà ở có thu tiền sử dụng đất. Theo Báo cáo 123/BC-TTPTQDĐL ngày 16/12/2022 của Trung Tâm phát triển quỹ đất tỉnh Đắk Lắk th trường hợp của h ông T đang được xem xét đề nghị giao đất có thu tiền sử dụng đất để n định đời sống là phù hợp v i nhận định của Tòa án sơ thẩm. Tại đơn kháng cáo UBND thành phố cho rằng H i đồng thẩm định điều kiện giao đất của UBND thành phố B kết luận tại Báo cáo số 241/BC-TNMT ngày 06/12/2022 cho rằng h ông Trần Hoàng T không đủ điều kiện đề xuất giao đất có thu tiền sử dụng đất không thông qua đấu giá quyền sử dụng đất. Nhưng Báo cáo số 241 này ban hành trư c Báo cáo 123 nên không có giá trị xem xét.
Đối v i yêu cầu bu c UBND thành phố B phải thanh toán m t khoản
tiền bằng mức tiền chậm n p theo quy định của Luật quản lý thuế tính trên số tiền chậm trả 713.336.000 đồng và thời gian chậm trả tính t ngày 07/7/2022 đến 06/10/2022 và thanh toán tiền bồi thường h trợ b sung theo quy định của Luật quản lý thuế tính trên số tiền chậm trả tính t ngày 07/7/2022 đến ngày nhận được tiền bồi thường, h trợ b sung:
Đối v i số tiền 713.336.000, UBND thành phố B đ phê duyệt b
sung kinh phí do chậm chi trả tiền bồi thường đối v i 12 h gia đ nh, cá nhân tại Quyết định 3115/QĐ-UBND ngày 07/6/2012, trong đó h ông Trần Hoàng T đ được thanh toán m t khoản tiền 20.118.688 đồng. Nên yêu cầu kháng cáo này của người bị kiện UBND thành phố B không còn ý nghĩa, không chấp nhận.
Đối v i yêu cầu khoản thanh toán tiền bồi thường h trợ b sung
theo quy định của Luật quản lý thuế tính trên số tiền chậm trả tính t ngày 07/7/2022 đến ngày nhận được tiền bồi thường, h trợ b sung: UBND thành phố B ban hành Quyết định 5788 và Quyết định 10482 về việc phê duyệt phương án bồi thường, h trợ và tiến hành thực hiện chi trả tiền bồi thường, h trợ và điều chỉnh bồi thường, h trợ. Các quyết định này đang được khiếu kiện, chưa có quyết định số tiền thực tế chi trả. Do đó, n i dung kháng cáo này của UBND thành phố B là có căn cứ để chấp nhận.
T những căn cứ và nhận định tại các mục trên, HĐXX phúc thẩm chấp
nhận m t phần kháng cáo của đại diện theo ủy quyền của Người bị kiện không chấp nhận yêu cầu khởi kiện về h trợ bồi thường chi phí đầu tư vào đất; không bu c UBND thành phố B phải thanh toán tiền l i chậm trả h trợ b sung tính t ngày 07/7/2022 đến ngày h ông Trần Hoàng T nhận đủ số tiền này. Do đó, HĐXX phúc thẩm sửa m t phần Bản án sơ thẩm.
Chấp nhận m t phần quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân
cấp cao Đà Nẵng tại phiên tòa về không chấp nhận yêu cầu bồi thường chi phí đầu tư vào đất đối v i diện tích đất bị thu hồi và phần l i chậm trả về khoản h trợ b sung.
Về án phí hành chính phúc thẩm: Người bị kiện kháng cáo được chấp
nhận m t phần, do vậy không phải chịu án phí.
Các phần khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có
hiệu lực pháp luật kể t ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
V các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 2 Điều 241, Điều 225 Luật Tố tụng hành chính:
Chấp nhận m t phần kháng cáo của đại diện theo ủy quyền của người bị
kiện. Sửa m t phần Bản án hành chính sơ thẩm số 74/2023/HC-ST ngày 24/5/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk về việc Khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai.”
Căn cứ khoản 2 Điều 79, Điều 83 và Điều 93 Luật Đất đai năm 2013, khoản
4 Điều 6, điểm d Điều 19 Nghị định số 47/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ; khoản 2, khoản 5, khoản 6 Điều 4 Nghị định 01/2017/NĐ-CP ngày 06 tháng 01 năm 2017 của Chính phủ; khoản 2 Điều 3, Điều 5 Quyết định số 14/2022/QĐ-CP ngày 15/3/2022 của UBND tỉnh Đ ban hành quy định về bồi thường, h trợ, tái định cư, khi Nhà nư c thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc H i quy định về mức thu, miễn, giảm án phí, lệ phí Tòa án;
Tuyên:
[1] Không bu c UBND thành phố B phải ban hành lại Quyết định về việc
phê duyệt phương án bồi thường, h trợ b sung khi Nhà nư c thu hồi đất đối v i phần h trợ bồi thường chi phí đầu tư vào đất cho h ông Trần Hoàng T, bà Nguyễn Thị V; không bu c Ủy ban nhân dân thành phố B thanh toán cho h ông Trần Hoàng T, bà Nguyễn Thị V các khoản tiền l i chậm trả theo mức tiền chậm n p theo quy định của Luật quản lý thuế đối v i số tiền được chấp nhận yêu cầu khởi kiện bu c U phải phê duyệt phương án bồi thường, h trợ ( n định đời sống; đào tạo, chuyển đ i nghề và t m kiếm việc làm tính t ngày 07/7/2022 đến ngày h ông T, bà V nhận được số tiền trên.
[2] Chấp nhận m t phần yêu cầu khởi kiện của ông Trần Hoàng T, bà
Nguyễn Thị V, hủy m t phần Quyết định số 5788/QĐ-UBND ngày 06/6/2022 và m t phần Quyết định số 10482/QĐ-UBND ngày 23/12/2022 của UBND thành phố B về việc phê duyệt phương án và phê duyệt phương án điều chỉnh bồi thường, h trợ và chi phí t chức thực hiện công tác bồi thường, h trợ khi nhà nư c thu hồi đất để xây dựng công tr nh: Hạ tầng giao thông Khu dân cư phía Nam tại phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk (đợt 1 , đối v i h ông Trần Hoàng T, bà Nguyễn Thị V. Bu c UBND thành phố B phải ban hành lại Quyết định về việc phê duyệt phương án bồi thường, h trợ b sung khi Nhà nư c thu hồi đất về việc giao 01 thửa đất ở có thu tiền sử dụng đất; h trợ n định đời sống; đào tạo, chuyển đ i nghề và t m kiếm việc làm cho h ông Trần Hoàng T, bà Nguyễn Thị V theo quy định của pháp luật.
[3] Án phí hành chính phúc thẩm: UBND thành phố B không phải n p,
hoàn 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí thu theo biên lai số 3755 ngày 14/6/2023 của Cục Thi hành án Dân sự tỉnh Đắk Lắk cho UBND thành phố B, tỉnh Đắk Lắk.
[4] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng
nghị có hiệu lực thi hành kể t ngày hết kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực thi hành kể t ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND tối cao; - VKSND cấp cao tại Đà Nẵng; - TAND tỉnh Đắk Lắk; - VKSND tỉnh Đắk Lắk; - Cục THADS tỉnh Đắk Lắk; - Những người tham gia tố tụng; - Lưu HSVA, PHCTP, LT. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đ ký Võ Thị Ngọc Dung |