vanban.org

Bản án 349/2022/DS-ST — Dân sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1] Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Tổng công ty điện lực Thành phố Hồ Chí Minh TNHH.

[2] Buộc ông Nguyễn Tấn D1 có nghĩa vụ thanh toán cho Tổng công ty điện lực Thành phố Hồ Chí Minh TNHH tổng số tiền còn nợ là 17.020.397 đồng (mười bảy triệu không trăm hai mươi nghìn, ba trăm chín mươi bảy đồng). [3] Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi h… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án dân sự — "Tổng công ty Điện lực Thành phố Hồ Chí Minh - Nguyễn Tấn Đ1"
  • Tòa quyết gì? [1] Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Tổng công ty điện lực Thành phố Hồ Chí Minh TNHH.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN HÓC MÔN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 349/2022/DS-ST
Ngày: 03 - 6 - 2022
V/v tranh chấp hợp đồng mua
bán tài sản

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÕA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Liên Quân.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Kim Liên.

2. Bà Nguyễn Thị Tịnh Tâm.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hà Kim Thông - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Hồ Thị Hiền - Kiểm sát viên.

Ngày 03 tháng 6 năm 2022 tại Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 330/2021/TLST-DS ngày 22 tháng 12 năm 2021 về “Tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 73/2022/QĐXXST-DS ngày 13 tháng 4 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 72/2022/QĐST-DS ngày 09 tháng 5 năm 2022 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Tổng công ty Điện lực Thành phố Hồ Chí Minh TNHH.

Địa chỉ: 35 Tôn Đức Thắng, phường Bến Nghé, Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Văn Th - Chức vụ: Tổng giám đốc.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Văn D. (vắng mặt)

Địa chỉ: xã H, huyện M, Thành phố Hồ Chí Minh.

2. Bị đơn: Ông Nguyễn Tấn D1, sinh năm 1972. (vắng mặt)

Hộ khẩu thường trú: xã Đ, huyện M, Thành phố Hồ Chí Minh.

Địa chỉ sử dụng điện: 3/3E ấp X1, xã Đ, huyện M, TP. Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 24 tháng 11 năm 2021 và bản tự khai, trong quá trình giải quyết vụ án, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Nguyễn Văn D trình bày:

Ngày 17/5/2020 ông Nguyễn Tấn D1 có ký Hợp đồng mua bán điện số 20/008014 với Tổng công ty Điện lực Thành phố Hồ Chí Minh TNHH. Tuy nhiên trong quá trình sử dụng, ông Nguyễn Tấn D1 còn nợ tiền điện là 17.020.397 đồng.

Do ông Nguyễn Tấn D1 không thanh toán số tiền điện còn nợ, Tổng công ty Điện lực Thành phố Hồ Chí Minh TNHH khởi kiện yêu cầu ông Nguyễn Tấn D1 thanh toán số tiền điện còn nợ là 17.020.397 đồng.

Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tổ chức phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải để các đương sự hòa giải với nhau nhưng chỉ có đại diện ủy quyền của nguyên đơn ông Nguyễn Văn D có mặt theo triệu tập của Tòa án, ông Nguyễn Tấn D1 vắng mặt không lý do và ông Nguyễn Văn D có đơn yêu cầu không tiếp tục tổ chức hòa giải nên vụ kiện không tiến hành hòa giải được. Vì vậy, vụ án được đưa ra xét xử theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự để Hội đồng xét xử xem xét quyết định.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn phát biểu quan điểm:

Về thủ tục tố tụng dân sự: Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành đầy đủ các thủ tục tố tụng dân sự theo quy định pháp luật. Tại phiên tòa, Thẩm phán, Hội đồng xét xử áp dụng, tuân thủ đúng trình tự thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÕA ÁN:

Sau khi nghiên cứu tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ tranh chấp: Quan hệ tranh chấp giữa Tổng công ty Điện lực Thành phố Hồ Chí Minh TNHH với ông Nguyễn Tấn D1 là “Tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản” được quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án và bị đơn cư trú tại huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh nên Tòa án có thẩm quyền giải quyết là Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại Điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về thủ tục tố tụng: Tòa án đã niêm yết và tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý, Giấy triệu tập, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa nhưng ông Nguyễn Tấn D1 vắng mặt không lý do và đại diện ủy quyền của nguyên đơn ông Nguyễn Văn D có đơn xin xét xử vắng mặt. Vì vậy, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[3] Xét yêu cầu của nguyên đơn:

[3.1] Trong quá trình tố tụng, bị đơn không đến Tòa án để trình bày ý kiến đối với yêu cầu của nguyên đơn. Như vậy, bị đơn đã từ bỏ quyền chứng minh của mình theo quy định tại Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự nên Hội đồng xét xử chỉ xem xét yêu cầu của nguyên đơn dựa trên cơ sở các tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp theo quy định của pháp luật.

[3.2] Theo đơn khởi kiện, nguyên đơn yêu cầu bị đơn có trách nhiệm thanh toán cho nguyên đơn số tiền điện còn nợ là 17.020.397 đồng. Căn cứ vào Hợp đồng mua bán điện số 20/008014 ngày 17/5/2020 và hóa đơn giá trị gia tăng (tiền điện) tháng 6, 7, 8, 9, 10, 11 năm 2021 có đủ cơ sở chứng minh ông Nguyễn Tấn D1 còn nợ Tổng công ty Điện lực Thành phố Hồ Chí Minh TNHH tiền điện là 17.020.397 đồng. Như vậy, bị đơn đã vi phạm nghĩa vụ trả tiền quy định tại Điều 440 Bộ luật dân sự năm 2015. Do đó, có đủ cơ sở xác định nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn thanh toán cho nguyên đơn số tiền điện còn nợ 17.020.397 đồng là có căn cứ, nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[4] Ý kiến đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn của Kiểm sát viên là phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[5] Về án phí: Án phí dân sự sơ thẩm bị đơn phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 430, Điều 440 Bộ luật dân sự năm 2015;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

[1] Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Tổng công ty điện lực Thành phố Hồ Chí Minh TNHH.

[2] Buộc ông Nguyễn Tấn D1 có nghĩa vụ thanh toán cho Tổng công ty điện lực Thành phố Hồ Chí Minh TNHH tổng số tiền còn nợ là 17.020.397 đồng (mười bảy triệu không trăm hai mươi nghìn, ba trăm chín mươi bảy đồng).

[3] Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong các khoảng tiền nêu trên, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015 tương ứng với thời gian và số tiền chưa thi hành án.

[4] Về án phí:

Án phí dân sự sơ thẩm ông Nguyễn Tấn D1 phải chịu 851.020 đồng (tám trăm năm mươi một nghìn không trăm hai mươi đồng, nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự có thẩm quyền.

Hoàn trả lại cho Tổng công ty điện lực thành phố Hồ Chí Minh TNHH số tiền tạm ứng án phí 300.000 (ba trăm nghìn) đồng đã nộp theo biên lai số AA/2021/0039315 ngày 03/12/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hóc Môn.

Các đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kề từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ