- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lợi dụng chức vụ, quyền hạn gây ảnh hưởng đối với người khác để trục lợi - phạm tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn gây ảnh hưởng đối với người…"
- Căn cứ chính? Điều 358 Bộ luật Hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 348/2025/HS-PT Ngày: 20/6/2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:
ông Trần Đức Kiên
Các thẩm phán:
ông Lê Văn Thường
ông Nguyễn Tấn Long
- Thư ký phiên tòa: bà Dương Thị Tuyết Trinh, Thẩm tra viên Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng tham gia phiên tòa: ông Đoàn Minh Lộc, Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 6 năm 2025, tại điểm cầu trung tâm trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng, kết nối với điểm cầu thành phần tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định, mở phiên tòa xét xử phúcthẩmcôngkhaibằnghìnhthứctrựctuyếnvụánhìnhsự thụ lýsố213/2025/TLPT-HSngày 06 tháng 5 năm 2025, đối với bị cáoNguyễn Đình K về tội “Lợi dụng chức vụ, quyền hạn gây ảnh hưởngđốivớingườikhác đểtrụclợi”.
Do có kháng cáo của bịcáo đốivớiBản ánhình sự sơthẩm số 18/2025/HS-ST ngày 07/3/2025 củaToàánnhândântỉnhBình Định.
- Bịcáocókháng cáo:
Nguyễn Đình K, sinh năm 1954 tại V, Bình Định; nơi đăng ký HKTT và chỗ ở: khu phố Đ, thịtrấn V, huyện V, tỉnh BìnhĐịnh; nghề nghiệp: nguyênBíthư huyện ủyV3; trình độhọc vấn (văn hóa): 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: N (chết) và bà Đặng Thị M (chết); vợ Phạm Thị Q, sinh năm 1961 và có 02 con, sinh cùng năm 1980; tiền án,tiềnsự: không.
Bị cáotại ngoại;vắng mặttại phiêntòa.
-NgườibàochữachobịcáoNguyễnĐìnhK:ôngNguyễnCôngT,Luậtsư CôngtyL1,Đoàn luật sư thànhphố Đ; cómặt.
Ngoài ra trong vụ án còn có nguyên đơn dân sự và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quannhưngkhôngcókhángcáo, khángnghịnênHộiđồngxétxử khôngtriệu tập.
NỘIDUNGVỤÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Đình K, sinh năm 1954, trú tại khu phố Đ, thị trấn V, huyện V, tỉnh Bình Định. Vào tháng 7/2002 được bổ nhiệm làm Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm tỉnh B. Đến tháng 10/2005, được bầu làm Bí thư Huyện ủy Vĩnh Thạnh cho đến tháng 11/2014 thì nghỉ hưu. Trong thời gian giữ các chức vụ này, Nguyễn Đình K lợi dụng ảnh hưởng chức vụ quyền hạn của mình để liên hệ với cáccánbộ,người cóthẩmquyền trong cáccơquan chứcnăngtạihuyệnVđể đượcgiaođấttrái pháp luật, chuyển nhượng 138,4hađất rừngphòng hộtạitiểukhu176a xã V(nayxãV), tiểukhu A xãV,huyệnV,tỉnhBìnhĐịnhcụthểnhư sau:
*Đốivớiviệcgiao 115hađất tiểukhu176a,xãV(naythuộcquảnlýxãV,huyệnV):
Vào năm 2004, thực hiện Dự án xây dựng công trình Hồ chứa nước Đ, toàn bộ xã V được di dời đến khu tái định cư xã V mới (được hình thành từ một phần đất của xã T - huyện T và xã V - huyện V), nên các hộ dân tại xã V để lại đất nương rẫy cũ trong khu vực rừng phòng hộ. Nguyễn ĐìnhKimbànvớingườinhàlà bà Nguyễn ThịT1, sinhnăm 1948(chịruộtcủaôngK)và BùiVăn S,sinhnăm1970;BùiThị NgọcV,sinhnăm1972làhaiconcủabàT1,cùngthườngtrútạithônA, xãV, huyện V thamgiacùng ôngK xinđấtrừng để trồng câyluồng, ôngKim C trách nhiệmbỏ vốn muacâygiống,thuêngườitrồng.Ngày04/5/2004,ôngKchủđộngviếtđơn,lậphồsơđứngtêncác hộ Nguyễn ThịT1, Bùi VănS,BùiThị Ngọc VvàNguyễnĐình S1 (sinhnăm1980, là con ôngK, cóhộ khẩu thường trú tại thôn V,huyệnV,lúcnàyđanghọctạiThànhphố Hồ Chí Minh)đồng thời ký thay đơn xin giao đất lâm nghiệp theo mẫu (riêng đơn của hộ bà V thì ông K đưa mẫu đơn cho bà V tự viết), đề nghị UBND xã V, Phòng Kinh tế và Hạ tầng nông thôn, UBND huyện V giao đất lâmnghiệptạitiểu khu176axã V,huyệnV cho ông S25 ha, bà T130ha, bàV30 ha, anh S1 30ha đểsử dụngvới mụcđíchtrồng rừngsảnxuất gắnkếtvớitrồngrừngphònghộ.
Để thuận lợi cho việc xin giao đất, ông K nhờ cán bộ kỹ thuật của Chi cục kiểm lâm tỉnh B là cấpdướicủaông(lúcnàylà ChicụctrưởngChicụckiểmlâm)làmgiúptríchlụcbảnđồ,tọađộkhu đất xin giao của từng hộ. Sau khi lập xong thủ tục ông K nhờ người quen tại V (do thời gian đã lâu ông K không nhớ đã nhờ ai) đem hồ sơ đến liên hệ UBND xã V, Phòng Kinh tế và Hạ tầng nông thônhuyệnVđềnghịxinxácnhậngiao đất.
Theo Quyết định số 3081/QĐ-UB ngày 14/9/2001 của UBND tỉnh B ban hành về việc Phê duyệt kết quả phân cấp rừng phòng hộ, quy hoạch ba loại rừng, thống kê tài nguyên rừng theo chức năng tỉnh Bình Định, xác định thì tiểu khu A xã V và tiểu khu 176a xã V được phân cấp là rừng phòng hộ xung yếu và không có chủ trương giao đất rừng phòng hộ cho cá nhân, tổ chức nào quản lýbảovệvàtại địa phươnghuyệnV cũng chưacókếhoạch, phương án giaođất lâmnghiệpchohộ gia đình.
Bêncạnhđó,theoquyđịnhtạiĐiều11củaLuậtBảovệvàpháttriểnrừngnăm1991,thìthẩm quyền giao đất rừng phòng hộ thuộc thẩm quyền của UBND cấp tỉnh. UBND cấp huyện có thẩm quyềngiao đất đốivớirừngsảnxuấtvàphảitheokếhoạch, quyhoạch củaUBND tỉnh và phải tuân thủ theo quy định tại Điều 13 Luật Đất đai năm 1987, tại thời điểm này đã thay thế bằng Điều 23 LuậtĐấtđainăm1993.
Mặc dù thời điểm tháng 05/2004 tại địa phương huyện V chưa có quy hoạch, kế hoạch bảo vệ, phát triển rừng và sử dụng rừng, đất trồng rừng, chưa có quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai, nhưng sau khi tiếp nhận các Đơn xin giao đất trên, ông Đinh H - Chủ tịch UBND xã V vẫn ký xác nhận UBND xã Vĩnh Hòa đồng ý theo đơn xin giao đất. Sau đó Đơn của 04 hộ, cá nhân này được chuyểnchoPhòngKinhtếvàHạtầngnôngthônhuyệnV.KhihồsơđượcchuyểnđếnôngNguyễn Hữu X - Trưởng phòng (có quan hệ là cháu của ông K), biết rõ 04 hộ gia đình, cá nhân xin giao đất là người nhà của ông K; đồng thời ông X cũng biết rõ tại địa phương huyện V chưa có Quy hoạch, kếhoạchbảovệ,pháttriểnrừngvàsử dụng rừng,đất trồngrừng,sử dụngđất đai trên địabànhuyện, nhưng vì nể nang ông K đang là Chi cục trưởng C; và theo ông X nhận thức đất nương rẫy của bà con dân tộc xã V cũ bị bỏ hoang thành đồi trọc do di dời đến khu tái định cư xã V mới, chủ trương chungcủaNhànướclàkhuyếnkhích trồng rừng đểngănchặnlũ, chống xóimòn. Dođó, ôngXgiao hồ sơ xin giao đất và chỉ đạo cho ông Mang Văn R - Cán bộ địa chính phối hợp cùng ông Lê Văn T2 - Cán bộ lâm nghiệp, ông Đặng Bá Q1 - Cán bộ Hạt Kiểm lâm huyện V đi kiểm tra hiện trạng khuvựcxingiao đấtđểlàm cơsởgiaođất.
Ngày 09/07/2004, sau khi kiểm tra xác định hiện trạng khu vực xin giao đất là đất trống, đồi núitrọc,đấtcó rừngtáisinhsaunương rẫyvà lậpBiênbảnthẩm địnhthốngnhất cáchộ, cánhânđủ điều kiện giao đất, báo cáo cho ông X biết. Ngày 12/7/2004, dựa theo trích lục bản đồ khu vực xin giao đấttronghồ sơ,ông Mang Văn Rlập04 Bản đồ khuvực xin giaođấtlâmnghiệpđối với 04 hộ, cá nhân tại T xã V và ký ở mục “Người trích vẽ”, đưa ông X ký ở mục “Trưởng phòng” để tham mưulậpTờtrìnhđề nghị UBNDhuyện quyếtđịnhgiao đất.
Tuy nhiên, vào ngày 01/7/2004 Luật Đất đai năm 2003 đã có hiệu lực thi hành, trong đó tại khoản 3 Điều 76 quy định: “Tổ chức quản lý rừng phòng hộ, giao khoán đất rừng phòng hộ cho hộ gia đình,cá nhânđangsinhsống tạiđóđểbảovệvàphát triểnrừng”,nên04 hộ,cánhân Nguyễn Thị T1, Bùi Văn S, Bùi Thị Ngọc V và Nguyễn Đình S1 không thuộc đối tượng được giao đất rừng phòng hộ tại T, xã V theo Luật Đất đai do không thường trú tại xã V, huyện V, nhưng ông Mang Văn R vẫn tham mưu soạn thảo 04 Tờ trình số 59, 60, 61, 62 cùng ngày 12/7/2004 trình cho ông Nguyễn Hữu X - Trưởng phòng ký văn bản về việc đề nghị UBND huyện V quyết định giao đất lâm nghiệp cho 04 hộ, cá nhân và nộp hồ sơ xin giao đất đến Văn phòng UBND huyện trình lãnh đạohuyệnký quyếtđịnh.
Sau khi UBND huyện nhận hồ sơ do Phòng Kinh tế và Hạ tầng nông thôn, UBND huyện V trình đến ông Lưu Ngọc C1 - Phó Chủ tịch gọi điện thoại hỏi ông X về việc giao đất cho 04 hộ, cá nhân và được ông X xác định là đã kiểm tra hồ sơ đúng quy định, do đó ông C1 tin tưởng và ký 04 Quyết định số 59, 60, 61, 62 cùng ngày 12/07/2004 về việc giao đất lâm nghiệp cho 04 hộ gia đình, cá nhân của Nguyễn Đình K với tổng diện tích là 115 ha tại T, xã V, mục đích trồng rừng sản xuất gắn kết với trồng rừng phòng hộ, thời hạn giao đất 50 năm, trong đó: hộ Bùi Văn S diện tích 25ha; hộNguyễnThịT1diệntích30ha; hộBùiThịNgọcVdiệntích30ha;cánhânNguyễnĐìnhS1diện tích 30ha.
Saukhiđượcgiao115hađất,NguyễnĐìnhKmuacâygiống,thuêngườitrồngcâyluồngtrên khu vực đất được giao. Làm được khoảng 1 năm (đến năm 2005) thì các hộ Nguyễn Thị T1, Bùi Văn S, Bùi Thị Ngọc V thấy việc chăm sóc cây luồng tại rừng vất vả nên không tham gia làm nữa và giao lại toàn bộ diện tích đất cho ông K trực tiếp quản lý, sử dụng trồng cây luồng, thu hoạch cho cánhân.
Đến ngày 15/11/2005, Thủ tướng Chính phủ có Nghị định số 143/2005/NĐ-CP về việc điều chỉnhđịagiớihành chính, thànhlậpxã,thịtrấnthuộc huyệnV,mởrộng thịtrấn PthuộchuyệnTvà mở rộng thành phố Q, tỉnh Bình Định, trong đó quyết định thành lập xã V mới (tại khu tái định cư mới)giáp xã V,V, huyện V;vàgiápxã B, T,huyệnT;điềuchỉnhdiện tíchđấttự nhiêncủa xãV cũ vềxãV,xã Vquảnlý,nêntiểukhu176a xãV cũđượcgiaovềxãV quảnlý.
Ngày 11/7/2007, trên cơ sở các quyết định giao đất của UBND huyện, Nguyễn Đình K làm đơn xin cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với diện tích đã giao theo quy định. Ngày 17/8/2007, UBND xã V xác nhận trên đơn đất không có tranh chấp, phù hợp với quy hoạch. Ngày 03/3/2008, ôngNguyễnVănL-TrưởngphòngTàinguyênvàMôitrườnghuyệnkýcácTờtrìnhsố 19, 20,21, 22đềnghị UBND huyện cấpGiấyCNQSDĐcho04 hộ,cá nhântheođơnmàông Kđã đề nghị. Ngày 05/3/2008, ông Trần Công S2 - Chủ tịch UBND huyện ký các Quyết định số 138, 139,140, 141vềviệc cấpGiấyCNQSDĐsốAG880214,AG880215,AG880216,AG880217 cho 04 hộ, cá nhân: Sum 25ha, Thử 30ha, V 30ha và S1 30ha, mục đích sử dụng: Đất trồng rừng sản xuất gắnkếtvớitrồngrừngphònghộ, thờihạnsử dụngđếntháng7/2054.
Đến tháng 11/2014, sau khi nghỉ hưu theo chế độ, ông K tiếp tục vào khu vực đất rừng được giao nói trên xây lán trại để ở và trồng luồng. Đến ngày 11/6/2018, Nguyễn Đình K nảy sinh ý định hợp thức hóa việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất diện tích 85 ha đứng tên 03 hộ Nguyễn Thị T1, BùiVănS,BùiThịNgọcVsangchomình quảnlý, sử dụng. Tuynhiên,theopháp luậtquy định muốn được nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất thì bắt buộc phải có hộ khẩu thường trú tại xã V(nơi cóđấtrừng),nênôngKđếnCôngan thị trấnVxinlàm thủtụcchuyển khẩuôngKtừ thịtrấn V đến xã V, và được hướng dẫn liên hệ Công an xã V để làm thủ tục chuyển khẩu. Do đó, Nguyễn Đình K đến Công an xã V, huyện V gặp ông Đinh S3 - Phó trưởng Công an xã phụ trách xin nhập khẩuvàochunghộvớiôngĐinhVănT3(làcháu ôngK)thườngtrútạithônV,xãV,huyệnV. Ông ĐinhS3biết rõôngK đangcóđất tạiT xãVvàcũng đangsinhsốngởlántrạitại đâyđểtrồngluồng, nênvì cảnểvẫntiếpnhậnđểlàm thủtụcchuyển khẩu và hẹn ôngK đến chiềunhậnsổ hộkhẩu.Sau đó, ông Đinh S3 đưa Phiếu báo thay đổi hộ khẩu nhân khẩu, B khai nhân khẩu của ông K cho ông Nguyễn Quốc K1 - Phó trưởng Công an xã V để liên hệ Công an thị trấn V thông báo việc chuyển khẩucủa ôngK, cập nhập thông tinviệc chuyển khẩu ôngK đến thônV, xãV, và viết sổ hộ khẩu số VI-1040đứngtênôngKlà chủhộ cùngnhàvớiôngT3(cháuôngK)đểông S3kýtên,đóngdấu.
Sau khi có hộ khẩu thường trú tại xã V, ngày 15/6/2018, Nguyễn Đình K làm đơn xin và gặp ôngPhạmVăn T4-Chủtịch UBNDxãVđểxácnhậnvớinộidung:Nguyễn ĐìnhKđangtrựctiếp sản xuất nông nghiệp, sinh sống và có nhà ở khu vực rừng phòng hộ thuộc tiểu khu 176a xã V để nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất của hộ Bùi Thị Ngọc V. Căn cứ xác nhận của UBND xã V, ngày 18/6/2018 ông K cùng hộ gia đình bà V đến UBND xã V làm Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với diện tích 30ha tại tiểu khu 176a xã V ghi giá chuyển nhượng 20.000.000 đồng, được ông T4 - Chủ tịch UBND xã V ký chứng thực hợp đồng chuyển nhượng. Ngày 27/7/2018, Văn phòng Đăng ký đất đai huyện V chỉnh lý chuyển nhượng quyền sử dụng đất với diện tíchnóitrênchoNguyễnĐìnhK.
Ngày24/8/2018,NguyễnĐìnhKtiếptụcđếngặpôngPhạmVănT4-ChủtịchUBNDxãV xácnhận đểnhậnchuyểnnhượngquyềnsử dụngđất củahộ BùiVăn S.Ngày 27/8/2018,ôngKvà hộ gia đình ông S đến UBND xã V làm Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với diện tích 25ha tại tiểu khu 176a xã V ghi giá chuyển nhượng 15.000.000 đồng, được ông Nguyễn Hồng Q2 -PhóchủtịchUBNDxãkýchứng thực chuyểnnhượng.Ngày24/9/2018, Văn phòngĐăngký đất đai huyện V chỉnh lý chuyển nhượng quyền sử dụng đất đứng tên hộ ông S cho Nguyễn Đình K.
Ngày28/9/2018,NguyễnĐìnhKtiếptụcđếngặpôngPhạmVănT4-ChủtịchUBNDxãV xácnhậnđể nhậnchuyểnnhượngquyềnsử dụngđấtcủahộNguyễnThịT1. Ngày01/10/2018,ông K và bà T1 đến UBND xã V làm Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với diện tích 30hatạitiểukhu176axãVghigiáchuyểnnhượng15.000.000đồng,đượcôngT4-ChủtịchUBND xãký chứng thực chuyểnnhượng.Ngày 17/10/2018, Văn phòngĐăngký đấtđaihuyệnVchỉnh lý chuyển nhượng quyền sử dụng đất nói trên cho ông K. Như vậy, đến thời điểm tháng 10/2018 diện tích 85ha đất đứng tên 03 hộ tại tiểu khu 176a xã V đã được chuyển quyền sử dụng đất toàn bộ cho NguyễnĐìnhK.
Đếntháng01/2022, sau thờigiansử dụng đất rừng được giao tráipháp luật vào việctrồngcây luồng chomụcđích cánhân, thìNguyễnĐìnhK chuyển nhượng115hađất tạitiểukhu 176axãV, huyện V cho bà Lâm Thị V1 (sinh năm 1990, thường trú tại phường P, thành phố T, Bình Dương), gồm 85ha đứng tên Nguyễn Đình K và 30ha đứng tên Nguyễn Đình S1 theo giá thỏa thuận. Tuy nhiên, để được nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất, thì điều kiện bắt buộc bà V1 phải có hộ khẩuthườngtrútạithônV,xãV,huyệnV,nênsauđóbàLâmThịV1hợpthứchóabằngcáchnhập khẩuthường trúvềxãV.
Ngày08/02/2022,NguyễnĐìnhKvàNguyễnĐìnhS1cùngbàV1đếnUBNDxãVlậpHợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất với giá trị 700.000.000 đồng, được UBND xã V chứng thực chuyển nhượng, trong đó 85 ha đất đứng tên Nguyễn Đình K được chuyển nhượng với giá 500.000.000 đồng; 30 ha đất đứng tên Nguyễn Đình S1 được chuyển nhượng với giá 200.000.000 đồng. Tại thời điểmnàybàV1 có hộkhẩuthườngtrútạithôn V,xãVtheo Thôngbáosố địnhdanh cá nhân và thông tin công dân trong cơ sở dữ liệu quốc gia do Công an xã V cấp, qua kiểm tra thấy bà V1 cũng có mặt tại xã V là đúng đối tượng theo quy định, nên ông Lương Quang N - Phó Chủ tịch UBND xã V đã ký chứng thực hợp đồng chuyển nhượng quyền sử đất. Sau đó bà V1 nộp hồ sơ cho Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả thuộc Văn phòng Đăng ký đất đai huyện V để làm thủ tục chỉnh lýthayđổiquyềnsử dụngđất.
Ngày 17/02/2022, Văn phòng Đăng ký đất đai huyện V xác nhận Giấy CNQSDĐ thay đổi chuyểnnhượngđất từ NguyễnĐìnhK,NguyễnĐìnhS1sangchobà LâmThịV1.Tuy nhiên,trong thờigianlàmthủtụcchỉnhlý,ôngLươngQuangN-PhóchủtịchUBNDxãVbiếtđượcbàV1chỉ cóhộkhẩuthườngtrútạixãVmàkhôngphảilàhộgiađìnhthườngxuyênsinhsốngtạixã,nênngày 01/8/2022ôngNchủtrìcùngvớicánbộtư pháphộtịch,cánbộcôngchứcđịachínhxã,trưởngthôn V,Công an viêntiếnhành kiểmtravàlậpBiênbảnxácminhvàxác địnhviệc bàV1khôngthường xuyêncómặt tạinơicư trú.Cùngngày01/8/2022,ôngNký Côngvănsố126gửiVănphòngĐăng kýđấtđaihuyệnVthôngbáoviệcbà V1khôngthườngxuyên sinh sống vàsảnxuấttạiđịaphương đểVănphòng xemxét,xử lýtheoquyđịnh.
Ngày02/8/2022,VănphòngĐăngkýđấtđaihuyệnVcóCôngvăngửiChicụcthuếKhuvực T6-Vthông báo việchoàntrả hồsơ chuyểnnhượng chobàLâmThị V1đểhoàntrảlại hồsơchuyển thuế vàtiềnthuếtrướcbạ,thuế thunhậpcá nhânđãnộpcủaông Kvà ông S1.
Ngày 27/12/2022, ông K, ông S1 và bà V1 đến UBND xã V lập Văn bản thỏa thuận hủy bỏ hợpđồng chuyểnnhượng quyềnsử dụngđấtngày 08/02/2022nêutrên.
*Đốivớiviệcxingiao23,4hađấttạitiểukhu Axã V,huyệnVcủa NguyễnĐìnhK:
Ngày05/05/2003,ôngNguyễnĐìnhK(thờiđiểmnàyôngKđanglàChicụctrưởngChicục kiểm lâm tỉnh) được UBND huyện V quyết định cho thuê đất trồng cây lâm nghiệp trồng rừng du lịch sinh thái theo Quyết định số 03/QĐ-CTUB ngày 15/11/2003 với diện tích 18ha, thời hạn thuê 50năm,trongđó:Tạitiểukhu176axãVdiện tích7ha,tiểu khuAxãVdiệntích11ha. Saukhiđược giao đất lâm nghiệp, ông K thực hiện trồng cây luồng, vừa trồng rừng phòng hộ, vừa sản xuất thu hoạchmăng luồng.
Đến tháng09/2006,ông Nguyễn ĐìnhKlà Bíthư Huyện ủyV3bịkhiếukiệnvềviệccánbộ có nhiều đất, nên ngày 12/09/2006 ông K có Đơn xin trả đất lâm nghiệp gửi UBND huyện, Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện V (được tách từ Phòng Kinh tế và Hạ tầng nông thôn huyện) và UBND xã V để trả lại 18ha đất lâm nghiệp tại T, 169 xã V cũ (lúc này thuộc xã V) được giao vào tháng11/2003như trên.ĐơnđượcUBNDxãVxácnhậnđồngýđềnghịUBNDhuyệnthuhồiđất. Ngày26/9/2006,PhòngThuyệncóTờtrìnhsố34gửiUBNDhuyệnV quyếtđịnhthuhồi18hađất của ông K. Ngày 04/10/2006, UBND huyện có Quyết định số 857 thu hồi 18ha đất trồng cây lâm nghiệp củaôngKtạitiểukhuA, tiểukhu176axãVvàgiao choUBNDxãVquảnlý.
Tạithờiđiểmnày,căncứ theoQuyếtđịnhsố3081/QĐ-UBngày14/09/2001 củaUBNDtỉnh B về việc Phê duyệt kết quả phân cấp phòng hộ, quy hoạch ba loại rừng, thống kê tài nguyên rừng theo chức năng tỉnh Bình Định thì tiểu khu A xã V, V được phân cấp quy hoạch là rừng phòng hộ rất xung yếu. Và tại Điều 23, Điều 24, Điều 28, Điều 46 Luật Bảo vệ và Phát triển rừng năm 2004 cũngquyđịnh:
Điều23:“Nhànướcgiao rừngphònghộkhông thu tiền sử dụngrừngđốivớicácBanquảnlý rừng phònghộ,tổchứckinhtế, đơnvị cũtrangnhândân, hộgiađình, cánhânđangsinhsốngtạiđó để quản lý, bảo vệ và phát triển rừng phòng hộ theo quy hoạch đã được phê duyệt, quyết định phù hợpvới việcgiaođất rừng phònghộtheoquyđịnhcủaLuậtĐấtđai;
Điều24: “Căn cứ đểgiaorừng, cho thuê rừng,chuyển mụcđíchsử dụng rừng phải căn cứ vào: Quyhoạch, kếhoạchbảovệrừngđãđượccơquanNhànướccóthẩmquyền phêduyệt,quyếtđịnh, và căncứ quỹ rừng,quỹđất rừng(đấtrừngsảnxuất, phònghộ, đặcdụng);
Điều 28:“UBND tỉnh, thành phốtrựcthuộcTrungươngquyếtđịnhgiaorừng,chothuêrừng đốivớitổchứctrongnước,ngườiViệt Namđịnhcư ởnướcngoài,chothuêrừngđốivớitổchức,cá nhân nước ngoài; UBND huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh quyết định giao rừng, cho thuê rừngđốivới hộgiađình, cánhân”;
Điều46:“Nhữngkhurừngphònghộđầunguồntập trungcódiệntíchtừ 5.000hatrởlênhoặc dưới 5.000ha nhưng có tầm quan trọng về chức năng phòng hộ hoặc rừng phòng hộ ven biển quan trọng phảicó Banquản lý rừngphònghộ;Nhữngkhurừngphònghộkhôngthuộcquyđịnhnàythì Nhà nước giao, cho thuê cho các tổ chức kinh tế, đơn vị cũ trang nhân dân, hộ gia đình, cá nhân tại chỗquảnlý, bảovệvàsử dụng”.
Ngoài ra, theo Điều 31, khoản 3 Điều 76 Luật đất đai năm 2003 quy định: “Tổ chức quản lý rừngphòng hộgiaokhoán đất rừng phònghộ đầu nguồn cho hộgiađình, cánhânđangsinh sống tại đóđểbảovệvàpháttriểnrừng.ỦybanNhândânhuyện,thịxã,thành phốthuộc tỉnhgiaođấtở,đất sản xuấtnôngnghiệpchohộgiađình,cánhânđósử dụng”.
Điều31: “Căn cứ đểquyết định giaođất,cho thuê đất baogồm:Quy hoạch, kếhoạch sử dụng đất đãđược cơquanNhà nướccóthâmquyềnphêduyệt”.
Do vậy, theo các quy định nêu trên thì điều kiện để giao rừng, đất trồng rừng là phải căn cứ Quyhoạch, kếhoạchbảovệrừngđãđượccơquanNhànướccóthẩmquyền phêduyệt,quyếtđịnh, và căn cứ quỹ rừng, quỹ đất rừng (đất rừng sản xuất, phòng hộ, đặc dụng); đồng thời căn cứ theo Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đã được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền phê duyệt; đối tượng hộgiađình,cánhânđượcgiaođấtrừngphònghộphảiđangsinhsốngtạikhuvựcrừngđóđểbảovệ vàpháttriểnrừng.
Mặc dù Nguyễn Đình K đã có đơn xin trả 18 ha đất lâm nghiệp, nhưng vì đã đầu tư rất nhiều tiền vào việc trồng rừng luồng và chăm sóc cây luồng mà không được UBND huyện bồi hoàn lại cáckhoảnchiphí đã bỏra,nên ôngK muốn xinlạikhu đấtnày để tiếp tụcđược quản lý,sử dụngđể sản xuất. Do đó, Nguyễn Đình K nhờ ông Nguyễn Văn D (là cháu gọi ông K bằng cậu ruột), sinh năm1961,thườngtrú tại thônĐ,xãV,huyện Vđứngtênđơn đềnghị UBNDxãV,UBNDhuyện Vgiao23,4hađấtlâmnghiệptạitiểukhuAxãV(gồm18hađấtđãtrảvàxingiaothêm5,4ha),mục đích: trồngrừngphònghộ bảovệ môitrường sinh thái.
Ngày 07/12/2006, Nguyễn Đình K trực tiếp mang đơn đến UBND xã V gặp ông Phạm Huy B1 - Cán bộ địa chính nói xin giao đất giúp cho ông D (cháu ông K) để đề nghị UBND xã V xác nhậnđơn.
Khi tiếp nhận Đơn xin giao đất, ông Phạm Huy B1 biết hộ gia đình ông D không thuộc đối tượng được giao đất rừng phòng hộ tại tiểu khu A xã V theo khoản 3 Điều 76 Luật Đất đai 2003, vì hộôngDthườngtrútạixã V,khôngphảisinhsốngtạixãV;đồngthờitạiđịaphươnghuyệnVcũng chưa có Quy hoạch, kế hoạch bảo vệ rừng và Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền phê duyệt, quyết định. Trong trường hợp này, theo quy định của pháp luật thì ông D không thuộc đối tượng, nhưng ông B1 vì nể nang ông Kim lúc này đang là Bí thư Huyện ủy cóảnh hưởng đến nhiềumặtcôngtác trên địa bànhuyệnV,nênông B1đềxuất việcxingiaođấtcủa ông K cho ông Cao Hoài P - Phó Chủ tịch UBND xã V và được ông P đồng ý, nên ông B1 đã xác nhận trên đơn nội dung: “Người xin đất có nhu cầu thực tế, đất sản xuất còn thiếu, phù hợp với quy hoạch của địa phương”, rồi ký nháy trình cho ông P ký xác nhận. Tiếp đó, Nguyễn Đình K tiếp tục đemđơnđếnPhòngThuyệnVgặpôngNguyễnVănL -Trưởngphòngtrình bày việcxingiaođất hộchoôngDlà cháuôngKvànhờ ôngLnghiêncứugiải quyết.Saukhitiếpnhậnđơn, ôngNguyễn Văn L cũng biết theo quy định của pháp luật đất đai thì hộ gia đình ông D không thuộc đối tượng được giao đất và tại địa phương huyện V cũng chưa có Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, nhưng trước sự ảnh hưởng về chức vụ hiện tại của ông K là Bí thư Huyện ủy, nên ông L cũng đã đồng ý việc giao đất và chỉ đạo cho ông Mang Văn R - Cán bộ địa chính của phòng Tài nguyên và môi trường huyện soạn thảo Tờ trình ghi số 01 ngày 04/01/2007, trình ông L ký kèm theo Đơn xin giao đất của hộ ông D gửi Văn phòng UBND huyện để trình cho ông Trần Công S2 - Chủ tịch UBND huyện ký Quyết định số 62 ngày 23/01/2007 về việc giao đất cho hộ gia đình ông D, diện tích 23,4 hatạitiểukhuAxãV.
Ngày10/7/2007,trêncơsởQuyếtđịnhgiaođấtcủaUBNDhuyệnV,Nguyễn ĐìnhKtiếptục nhờông Nguyễn Văn DkýĐơn xincấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đấtđốivớidiệntích23,4ha đãđược giao nói trên.Căn cứ theo quyết địnhgiaođất này,ngày10/10/2007 UBNDxãV xác nhận đất sử dụngổnđịnh,khôngcótranhchấp,khiếunại vềđấtđai,sử dụngphù hợpvớiquyhoạch.
Ngày 11/10/2007, ông Nguyễn Văn L - Trưởng phòng Tài nguyên và Môi trường huyện ký Tờ trình số 111 đề nghị UBND huyện cấp Giấy CNQSDĐ cho hộ ông Nguyễn Văn D. Ngày 15/10/2007, ông Trần Công S2 - Chủ tịch UBND huyện ký Quyết định số 1115 để cấp Giấy CNQSDĐ số AG880168 ngày 15/10/2007 cho hộ ông D, diện tích 23,4ha, mục đích sử dụng: Đất trồng rừngphònghộ bảovệ môitrường sinh thái,thờihạnsử dụngđếntháng01/2057.
Sau khi được cấp đất sử dụng vào mục đích trồng cây luồng, đến ngày 05/6/2009, Nguyễn Đình Kthựchiệnviệc chuyểnquyềnsử dụngđất từ hộ ôngNguyễnVăn Dsang cho hộông Nguyễn Đình N1 (con trai ông K) để thuận tiện việc vay vốn ngân hàng. Nguyễn Đình K đem Giấy CNQSDĐ số AG880168 đứng tên hộ ông D trực tiếp đến gặp và trình bày với ông Cao Hoài P - Phó Chủ tịch UBND xã V về trường hợp Nguyễn Văn D không sử dụng khu đất này và chuyển nhượnglạichoôngN1và nhờôngPgiúpchứngthựchợpđồngchuyểnnhượngquyềnsử dụngđất. Ông Cao Hoài P biết rõ ông N1 đang thường trú tại xã V, huyện V là không thuộc đối tượng được nhậnchuyển quyền sử dụng đất rừng phònghộ tại tiểukhu AxãV.Vì theo khoản3 Điều 104Nghị định181/2004/NĐ-CPngày29/10/2004của Chính Phủ hướngdẫnthihành Luật Đất đai 2003quy định chỉ chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho người đang sống trong khu vực rừng phòng hộ đó, nhưng do bị ảnh hưởng chức vụ của ông K là Bí thư Huyện ủy, ông P đã chỉ đạo ông Huỳnh Đức P1 - Cán bộ tư pháp xã lập Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất ngày05/6/2009đểchứngthựcviệcchuyểnnhượng23,4hađấtrừngphònghộtạitiểukhuAxãVtừ hộôngDsanghộôngN1, ghigiáchuyểnnhượng10.000.000đồng,sauđóhồ sơđượcnộpchoVăn phòng Đăng ký quyền sử dụng đất thuộc Phòng TN-MT huyện làm thủ tục chuyển nhượng quyền sử dụngđất.
Khi tiếp nhận hồ sơ, ông Trần Công T5 - Giám đốc Văn phòng Đăng ký quyền sử dụng đất V2khôngkiểmtravề đốitượngđượcgiaođất,đốitượngđượcnhậnchuyểnnhượngquyền sử dụng đất mà chỉ căn cứ theo Hợp đồng chuyển nhượng do UBND xã V chứng thực để ký xác nhận trên Giấy CNQSDĐ số AG880168 của hộ ông D nội dung thay đổi chuyển nhượng quyền sử dụng đất sang chohộông N1.
Ngày 10/7/2009, ông N1 có Đơn xin cấp Giấy CNQSDĐ; ngày 29/7/2009 Phòng TN-MT huyệncó Tờtrình số141đềnghịUBNDhuyệnquyết địnhvềviệc cấpGiấyCNQSDĐ. Cùng ngày 29/7/2009, UBND huyện có Quyết định số 1368 cấp Giấy CNQSDĐ số AO184680 ngày 29/7/2009chohộôngN1. SauđóôngKcũngtrựctiếpquảnlý,sử dụngđấttrồngluồngchođếnsau này.
Sau khi bị cơ quan có thẩm quyền phát hiện về việc giao đất không đúng quy định cho ông NguyễnĐìnhK, ngày 07/3/2023,UBNDhuyệnV banhành các Quyết định số251, 252,253, 254, 255thuhồi138,4hađấttạitiểukhu176axãV,tiểukhuAxãV(gồm85hatênôngK,30hatênông S1 và23,4hatênôngN1).
Vào các ngày 06/4/2023, 01/8/2023 ông Nguyễn Đình N1 đã giao nộp Giấy CNQSDĐ số AO184680đốivớidiệntích23,4ha tại tiểu khu A xã V; ông Nguyễn Đình K và ông Nguyễn Đình S1đãbàngiao04GiấyCNQSDĐsốAG880214,AG880215,AG880216,AG880217đốivớidiện tích 115ha tại tiểu khu 176a xã V cho Văn phòng Đăng ký đất đai huyện V theo các quyết định thu hồiđấtnóitrên.
Quá trình quản lý, sử dụng 138,4 ha đất được giao trái pháp luật để sử dụng trồng cây luồng, Nguyễn Đình K không kê khai được các khoản thu lợi từ hoạt động trồng rừng; Cơ quan điều tra cũngkhông có căn cứ đểxácđịnhnguồnthu từ việcsử dụngđấttrongthờigiannóitrên.
Để có cơ sở xác định hành vi phạm tội của Nguyễn Đình K, làm căn cứ xử lý theo pháp luật. Ngày 19/6/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B tiến hành yêu cầu định giá tài sản số 2131/YC-CSKTđềnghịHộiđồngđịnhgiátàisảntrongtốtụnghìnhsự tỉnhBìnhĐịnhxácđịnhgiá trị 138,4 ha đất rừng phòng hộ theo bảng giá Nhà nước ban hành tại các thời điểm giao đất, chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho Nguyễn Đình K, gồm: Diện tích 115ha tại T xã V cũ (nay thuộc xã V)tại thờiđiểm tháng 07/2004 và tại thời điểmtháng 02/2022; diện tích 85ha tại tiểu khu176a xã V, huyện V tại thời điểm tháng 6 - 9/2018; diện tích 23,4ha tại tiểu khu A xã V, huyện V tại thời điểm tháng 01/2007,và tạithờiđiểmtháng06/2009.
Ngày 15/8/2024, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự tỉnh Bình Định định có Kết luận địnhgiátàisản số 62/KL-HĐĐGTTHSxácđịnh:
-Đốivới 115hađất rừng phònghộtạiTxãVcũ (naylàxãV):
+Tạithờiđiểmtháng07/2004cógiátrị1.380.000.000đồng.
+Tạithờiđiểmtháng02/2022cógiátrị3.381.000.000đồng.
-Đốivới 23,4hađất rừngphònghộtạitiểukhu AxãV:
+Tạithờiđiểmtháng01/2007cógiátrị1.261.800.000đồng.
+Tạithờiđiểmtháng06/2009cógiátrị540.540.000đồng.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 18/2025/HS-ST ngày 07/3/2025, Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định quyết định: tuyên bố bị cáo Nguyễn Đình K phạm tội “Lợi dụng chức vụ, quyền hạn gây ảnh hưởngđốivớingườikhác đểtrụclợi”.
Áp dụng điểm b, d khoản 2 Điều 358 Bộ luật Hình sự; các điểm b, o, s, x, v khoản 1, khoản 2 Điều51;khoản1 Điều54 BộluậtHình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Đình K 03 (ba) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt đi thi hành án.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về phần trách nhiệm dân sự, án phí và thông báo quyềnkhángcáo theoquyđịnhphápluật.
Ngày 21/3/2025, bị cáo Nguyễn Đình K kháng cáo bản án sơ thẩm với nội dung xin được hưởng án treohoặcmiễntruy cứutráchnhiệmhìnhsự.
Tạiphiêntòaphúc thẩm,bịcáoNguyễnĐìnhKvắngmặt;
Kiểm sát viên của Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng phát biểu quan điểm đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự, không nhậnkhángcáo,giữ nguyênhìnhphạtcủa Bản án sơthẩmđốivớibị cáoNguyễnĐìnhK.
Người bào chữa cho bị cáoNguyễn Đình K trình bày quan điểm và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo việc Toà án cấp sơ thẩm quy kết bị cáo có hành vi gây ảnh hưởng đối với người khác để trục lợi là không có cơ sở. Bị cáo K không có lời nói, hành động nào gây ảnh hưởng tới người có chức vụ, quyền hạn để trục lợi, bị cáo cũng không nhận lợi ích vật chất gì trong vụ án này; thờihiệutruycứutráchnhiệmđốivớitộidanhmàToàsơthẩmkếttộibịcáođãhết,bịcáonhậngiao đất từ ngày 12/7/2004, đến ngày 27/2/2024 bị khởi tố là đã hơn 19 năm; việc xác định thiệt hại do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra của cấp sơ thẩm cúng không chính xác; bị cáo không được nhận kết luận định giá tài sản theo đúng quy định. Đề nghị Hội đồng xét xử huỷ toàn bộ bản án sơ thẩm để tiến hành điều tra lại vụ án. Trong trường hợp Hội đồng xét xử không huỷ án sơ thẩm để điều tra lạithìđềnghịHộiđồngxétxử cânnhắcchobịcáocónhiềutìnhtiếtgiảmnhẹđặcbiệtđểquyếtđịnh một bảnáncólợinhấtchobịcáotheoquyđịnhcủa phápluật.
NHẬNĐỊNHCỦATÒAÁN:
Trêncơsởnộidungvụán,căncứ vàocáctàiliệucótronghồsơđãđượctranhtụngcôngkhai tại phiêntòa,Hộiđồngxét xử nhậnđịnhnhư sau:
[1].Vềtốtụng:
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 21/3/2025, bị cáo Nguyễn Đình K kháng cáo Bản án sơ thẩm. Đơnkháng cáo củabị cáo làtrong thờihạnquyđịnh tạikhoản 1Điều333 của Bộ luậtTố tụnghình sự nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm. Bị cáo Nguyễn Đình K đã được Toà án triệu tập hợp lệ nhiều lần;tạiphiêntòa,bịcáo vắng mặtcólýdo. Hộiđồng xét xử căn cứ điểm ckhoản1 Điều 351 BộluậtTốtụng hình sự,tiếnhànhxétxử vắngmặtbịcáoNguyễnĐìnhK
[2].Vềnộidung:
[2.1]. Căn cứ lời khai của bị cáo tại cấp sơ thẩm, các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án,Hộiđồngxétxử cóđủ cơ sởxácđịnh:
Nguyễn Đình K được bổ nhiệm làm Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm tỉnh B vào tháng 7/2002.Đếntháng 10/2005,đượcbầulàm Bíthư HuyệnủyVĩnhThạnh chođếntháng11/2014thì nghỉ hưu. Trong thời gian giữ các chức vụ này và sau khi nghỉ hưu, mặc dù Nguyễn Đình K biết rõ cácquyđịnh củaphápluậtvề bảovệ,pháttriểnrừng;LuậtĐấtđainăm1993vànăm2003; cácvăn bảncủa Nhà nước quy định về chếđộ bảovệrừngphòng hộxung yếu; Quyết định số 3081/QĐ-UB ngày14/9/2001của UBNDtỉnh B,thì tiểukhuAxã Vvàtiểukhu176axãV(nay làV)đượcphân cấplàrừngphònghộxungyếuvàkhôngcóchủ trươnggiao đấtrừngphònghộchocánhân,tổchức nào quản lý, bảo vệ và tại địa phương huyện V cũng chưa có kế hoạch, phương án giao đất lâm nghiệp cho hộ gia đình. Nhưng với động cơ tư lợi, bị cáo K đã có hành vi viết đơn, lập hồ sơ đứng tên cáchộ Nguyễn Thị T1,Bùi Văn S,BùiThị Ngọc VvàNguyễn ĐìnhS1lànhững người có quan hệbàconthânthích vớibịcáo, tự ký thay đơn xingiao đấtlâmnghiệp,sauđó lợidụng chứcvụ mình đang giữ đã tác động, gây ảnh hưởng đến người khác là các cán bộ xã nơi có đất, cán bộ, lãnh đạo cácphòngbanchuyênmôntrênđịabànhuyệnVthựchiệnhànhvitráiphápluật;xácnhậnvàquyết định giao 115ha đất rừng phòng hộ không đúng thẩm quyền cho người thân của bị cáo nhưng trên thựctếbịcáolàngườiquảnlý,sử dụng.
Ngoàira,ngày 04/10/2006,UBNDhuyệnVraquyết định thu hồi18hađấtđã chobịcáothuê trước đó. Nhưng với động cơ cá nhân và mục đích tư lợi muốn được Nhà nước giao lại 18 ha đã bị thu hồi và muốn giao thêm 5,4ha đất rừng tại khu vực liền kề, nên tháng 12/2006 (sau khi bị thu hồi đất 02 tháng) bị cáo tiếp tục làm đơn, nhờ cháu là ông Nguyễn Văn D đứng tên để xin được giao 18hađất rừng tạikhu vực mớibị thuhồivàxinthêm5,4hađất liền kề. Sauđómang đơn đến cấpcó thẩm quyền để xin giao đất cho ông D. Các cấp chính quyền, người có chức vụ, quyền hạn trên địa bàn huyện V đều nhận thức được việc giao đất cho ông Nguyễn Văn D là không đúng đối tượng, nhưng trước sự ảnh hưởng với chức vụ là Bí thư Huyện ủy V3 của Nguyễn Đình K, nên đã quyết định giao trái pháp luật 18ha đất rừng đã thu hồi trước đó của ông K và giao thêm 5,4ha đất rừng tại khu vực liền kề cho ông D, nhưng thực tế bị cáo Nguyễn Đình K là người quản lý, sử dụng phần diệntíchđấtnàyđếnkhithuhồi.Năm2023,hànhvicủaNguyễnĐìnhKbịcơquanchứcnăngphát hiện. Theo Kết luận định giá tài sản của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự tỉnh Bình Địnhthìhànhvigiaođấttrái phápluậtchoNguyễnĐìnhKđãgây thiệthại giátrịvềđấttạithờiđiểm đượcgiaođấtvớisốtiền2.641.800.000đ.
Vớihànhvivàhậu quảnêutrên,Tòaán nhândântỉnhBình ĐịnhkếttộiNguyễnĐìnhK“Lợi dụngchứcvụ,quyềnhạngây ảnhhưởngđốivớingườikhácđểtrụclợi”theo cácđiểmb,dkhoản2 Điều 358 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, không oan. Năm 2023, hành vi phạm tội của bị cáo bị phát hiện. Cơ quan tiến hành tố tụng cấp sơ thẩm căn cứ Kết luận định giá tài sảncủaHộiđồngđịnhgiá tàisảntrongtốtụnghìnhsự tỉnhBìnhĐịnhxácđịnhhànhviphạmtộicủa Nguyễn Đình K gây thiệt hại giá trị về đất tại thời điểm được giao đất với số tiền 2.641.800.000đ là đúngphápluật.Quanđiểm củangườibàochữavềthờihiệu truy cứutráchnhiệmhìnhsự đốivớibị cáovàviệcxácđịnhthiệthại trongvụánlàkhông cócơ sởchấpnhận.
[2.2]. Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội và nội dung kháng cáo của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng:
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến hoạt động đúng đắn của các tổ chức, cơ quan Nhà nước trong lĩnh vực quản lý, sử dụng đất đai, gây mất uy tín cho cơ quan chính quyềnđịaphương,làmgiảm sút lòngtin của quầnchúngnhândân đốivớichínhquyền. BịcáoNguyễnĐìnhKlàngườicóđủnănglựctráchnhiệmhìnhsự.Tạithờiđiểmtrướcnăm2005, bị cáo giữ chức vụ Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm tỉnh B, đến tháng 10/2005, được bầu làm Bí thư Huyện ủy V3, bị cáo biết rõ hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn gây ảnh hưởng đối với người khácđểtrụclợilàviphạm phápluậtnhưngvìmụcđích tư lợibịcáovẫnnhiềulần cố ýthực hiện. Vì vậy,cầnphảixử lýbịcáovớimứchìnhphạtnghiêmkhắc,cáchlybịcáorakhỏiđờisốngxã hội một thời gian mới đảmbảo được tínhnghiêm minh củaphápluật,cótác dụngrănđe,cải tạo, giáodụcvà phòngngừa chung.
Trong quá trình giải quyết vụ án, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đã tự nguyện trả lại toàn bộ diện tích đất rừng được cấp trái phép; khi xét xử sơ thẩm bị cáo đã trên 70 tuổi; quá trình côngtácbịcáođượctặngthưởngnhiềudanhhiệuthiđuacóthànhtíchxuấtsắctrongsảnxuất,công tác;bảnthânbị cáotừngthamgiakhángchiếnchốngMỹvàđượctặngthưởngHuân chương chiến sỹgiảiphónghạngNhất,N2,BavàHuychươngkhángchiếnhạngNhất;hoàncảnhgiađìnhbịcáo khó khăn, vợ bị bệnh. Toà án cấp sơ thẩm xem xét cho bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm b, o, s, v, x khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự là có căncứ,đúngphápluật.
Saukhiđánhgiátínhchất,mứcđộ hành vi phạmtội,xemxétcáctìnhtiết giảmnhẹtrách nhiệm hình sự, đánh giá vai trò cũng như nhân thân của bị cáo, Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng khoản 1 Điều 54 của Bộ luật Hình sự để xét xử Nguyễn Đình K mức án dưới khung hình phạt mà bị cáo đang bị truy tố xét xử; tuyên phạt bị cáo Nguyễn Đình K 03 năm tù, mức hình phạt này là phù hợp, khôngnặng.
Nguyễn Đình K bị áp dụng tình tiết định khung “Phạm tội 02 lần trở lên” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 358 Bộ luật Hình sự nên không đủ điều kiện hưởng án treo quy định tại Điều 65 của Bộ luật Hình sự và Nghị quyết hướng dẫn của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao cũng như điềukiệnđểđượcmiễntráchnhiệmhìnhsự.Dođó,nộidungkhángcáoxinđượchưởngántreo hoặc được miễn trách nhiệm hình sự của bị cáo K không được Hội đồng xét xử chấp nhận mà cần giữ nguyên Bảnánsơ thẩmđốivới bị cáonhư đềnghịcủaKiểm sátviêntạiphiên toà.
[3].Vềánphíhìnhsự phúcthẩm:bịcáolàngườicaotuổinênđượcmiễnánphíhìnhsự phúc thẩm.
[4]. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị, Hội đồngxétxử phúcthẩmkhôngxét.
Vìcáclẽ trên;
QUYẾTĐỊNH:
1.Căn cứ điểm akhoản1Điều355;Điều356 của BộluậtTốtụnghìnhsự;
Khôngchấp nhận kháng cáocủabị cáoNguyễnĐìnhK.Giữ nguyênBản án hìnhsự sơ thẩm số18/2025/HS-ST ngày07/3/2025,Tòa án nhândântỉnh BìnhĐịnhđối vớibịcáo.
2.Áp dụngđiểm b,dkhoản2Điều358BộluậtHìnhsự; các điểmb,o,s,x, vkhoản1,khoản 2Điều51;khoản 1Điều54BộluậtHình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Đình K 03 (ba) năm tù về tội “Lợi dụng chức vụ, quyền hạn gây ảnh hưởngđốivớingườikhác đểtrụclợi”.Thờihạntùtínhtừ ngàybắt đithihànhán.
3.Vềánphí:căncứ khoản2Điều136BộluậtTốtụnghìnhsự;ápdụngđiểmđkhoản1Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2012 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy địnhvề mứcthu,miễn,giảmánphí,lệphíTòa án.
Bị cáoNguyễn ĐìnhKđượcmiễn ánphíhình sự phúcthẩm.
4. Các quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm không bị kháng cáo, không bị kháng nghị cóhiệulựcphápluậtkểtừ ngàyhếtthờihạnkháng cáo,kháng nghị.
Bảnánhìnhsự phúcthẩm cóhiệulựcphápluậtkểtừ ngàytuyên án.
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân tối cao - Vụ GĐKT I; - VKSNDCC tại Đà Nẵng; - TAND tỉnh Bình Định; - VKSND tỉnh Bình Định; - Sở Tư pháp tỉnh Bình Định; - Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bình Định; - Cơ quan CSĐT, Phòng HSNV-CA tỉnh Bình Định; - Cơ quan CSTHAHS-CA tỉnh Bình Định; - Bị cáo; - Những người tham gia tố tụng; - Lưu: HSVA; LT; phòng HCTP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Đức Kiên |