vanban.org

Bản án 348/2021/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho chị Lê Thị Trường A ly hôn với anh Ngô Thanh S.

Về con chung: Chị Lê Thị Trường A được trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên Ngô Thanh L, sinh ngày 18 tháng 11 năm 2014. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Lê Thị Trường An - Ngô Thanh Sang"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho chị Lê Thị Trường A ly hôn với anh Ngô Thanh S.
  • Căn cứ chính? Điều 11 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHÂU PHÚ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH AN GIANG
Bản án số: 348/2021/HNGĐ-ST
Ngày: 28 - 10 - 2021
V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CP, TỈNH AG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Duy Linh.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Lê Trung Thành.

2. Bà Lương Thảo Vy.

- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Văn Quang - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Phú.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Phú: Không tham gia phiên tòa.

Ngày 28 tháng 10 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Phú, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 306/2021/TLST-HNGĐ ngày 12 tháng 10 năm 2021 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 233/2021/QĐXXST-HNGĐ ngày 21 tháng 10 năm 2021, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Lê Thị Trường A, sinh năm 1994; địa chỉ cư trú: Tổ 18, ấp HP 4, thị trấn AC, huyện CT, tỉnh AG (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)

2. Bị đơn: Anh Ngô Thanh S, sinh năm 1990; địa chỉ cư trú: Tổ 24, ấp BM, xã BM, huyện CP, tỉnh AG (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện ngày 28/6/2021, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, chị Lê Thị Trường A trình bày:

- Về hôn nhân: Vợ chồng tự nguyện tiến tới hôn nhân và tổ chức lễ cưới vào năm 2013, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn AC, huyện CT, tỉnh An Giang. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc; nhưng sau đó vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, không hợp ý nhau, thường xuyên cãi vả; vợ chồng đã nhiều lần hàn gắn tình cảm nhưng mâu thuẫn vẫn diễn ra. Nay nhận thấy tình trạng vợ chồng ngày càng trầm trọng, tình cảm không còn nên Chị A yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn với anh S.

- Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung tên Ngô Thanh L, sinh ngày 18/11/2014, đang chung sống với Chị A. Chị A yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu anh S cấp dưỡng cho con.

- Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại Bản tự khai ngày 12/10/2021, anh Ngô Thanh S trình bày:

- Về hôn nhân: Anh S và Chị A tự nguyện tiến tới hôn nhân vào năm 2013, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn AC, huyện CT, tỉnh An Giang. Cuộc sống vợ chồng ban đầu hạnh phúc, nhưng dần về sau thì phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, không hợp ý nhau, thường xuyên cãi nhau. Nay anh S đồng ý ly hôn với Chị A.

- Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung tên Ngô Thanh L, sinh ngày 18/11/2014, đang chung sống với Chị A. Anh S đồng ý giao con chung cho Chị A trực tiếp nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành, anh S không cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa,

Chị A và anh S đều có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt, trong đó Chị A và anh S giữ nguyên yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn; thống nhất giao con chung tên Ngô Thanh L cho Chị A trực tiếp nuôi dưỡng; Chị A không yêu cầu cấp dưỡng cho con; không yêu cầu giải quyết về tài sản chung và nợ chung.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về thủ tục tố tụng:

[1.1] Tranh chấp giữa các đương sự về việc ly hôn, bị đơn cư trú tại huyện CP, tỉnh AG nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Châu Phú theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Cả nguyên đơn và bị đơn đều có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án theo quy định tại khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về quan hệ hôn nhân:

Chị A và anh S tự nguyện tiến tới hôn nhân vào năm 2013, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn AC, huyện CT, tỉnh An Giang vào ngày 16/12/2013, nên quan hệ hôn nhân giữa Chị A và anh S được pháp luật công nhận kể từ ngày đăng ký kết hôn; làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ và chồng theo Luật hôn nhân và gia đình. Quá trình chung sống, Chị A và anh S có phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, đời sống chung không hòa hợp nên đã sống ly thân nhau. Cả Chị A và anh S đều yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn và có đơn yêu cầu Tòa án không tiến hành hòa giải; cho đến nay vợ chồng vẫn không thể tự hàn gắn tình cảm.

Xét thấy, vợ chồng phải có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; có nghĩa vụ sống chung với nhau. Tuy nhiên, giữa Chị A và anh S đã không thực hiện đúng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình, làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận cho Chị A ly hôn với anh S theo quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

Về con chung: Chị A và anh S có 01 con chung tên Ngô Thanh L, sinh ngày 18/11/2014, Chị A yêu cầu được trực tiếp nuôi con. Xét thấy, từ khi vợ chồng ly thân đến nay, Chị A là người trực tiếp nuôi con và có điều kiện đảm bảo việc nuôi con; anh S thống nhất giao con chung cho Chị A trực tiếp nuôi dưỡng. Do đó, để tạo điều kiện cho con được ổn định về tâm lý, chỗ ở và học tập, Hội đồng xét xử chấp nhận giao con chung tên Ngô Thanh L cho Chị A trực tiếp nuôi dưỡng theo quy định tại Điều 81 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

Về cấp dưỡng cho con: Chị A không yêu cầu anh S cấp dưỡng nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét; trường hợp có tranh chấp sẽ được giải quyết trong vụ án khác.

Về án phí sơ thẩm: Chị A phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí Chị A đã nộp. Anh S không phải chịu án phí sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, khoản 1 Điều 228, Điều 266, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ vào Điều 11 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000; Điều 19, Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ vào khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho chị Lê Thị Trường A ly hôn với anh Ngô Thanh S.

2. Về con chung:

- Chị Lê Thị Trường A được trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên Ngô Thanh L, sinh ngày 18 tháng 11 năm 2014.

- Chị Lê Thị Trường A không yêu cầu anh Ngô Thanh S cấp dưỡng cho con nên Hội đồng xét xử không xem xét.

- Chị Lê Thị Trường A cùng các thành viên gia đình không được cản trở anh Ngô Thanh S trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung. Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của cha, mẹ, người thân thích của con hoặc cơ quan, tổ chức có thẩm quyền, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, hạn chế quyền của cha mẹ đối với con, buộc cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định của pháp luật.

3. Về tài sản chung và nợ chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

4. Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Lê Thị Trường A phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn, được trừ vào số tiền 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí Chị A đã nộp theo biên lai thu số 0003306 ngày 12 tháng 10 năm 2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện CP, tỉnh AG.

5. Về quyền kháng cáo: Chị Lê Thị Trường A và anh Ngô Thanh S có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.

Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ