vanban.org

Bản án 348/2020/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử: Chị Nguyễn Thị T được ly hôn anh Cao Đình M.

Về con chung: Xác nhận chị T, anh M có 01 con chung là cháu Cao Ngọc Linh Chi, sinh ngày 28/4/2014. Giao cháu Chi cho chị T chăm sóc nuôi dưỡng cho đến khi trưởng thành hoặc đến khi có thay đổi khác. Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con chung cho anh M đến khi có yêu cầu khác. Sau khi chấp hành án anh M… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp HNGĐ"
  • Tòa quyết gì? Xử: Chị Nguyễn Thị T được ly hôn anh Cao Đình M.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 271 Bộ luật tố tụng dân sự báo chị T biết
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHƯƠNG MỸ - TP HÀ NỘI
** * * *
Bản án số: 348/2020/HNGĐ-ST.
Ngày 21/8/2020.

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

V/v: Tranh chấp HN&GĐ.

NNHHÂÂNN DDAANNHH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHƯƠNG MỸ - THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Tưởng Ngọc Tuấn

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Thị Hà

2. Bà Nguyễn Thị Liên

- Thư ký phiên tòa: Ông Tô M Hà, thư ký TAND huyện Chương Mỹ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chương Mỹ tham gia phiên tòa: Bà

Triệu Thị Hồng – Kiểm sát viên.

Trong ngày 21/8/2020 tại Trụ sở TAND huyện Chương Mỹ xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 322/2020/TLST-HNGĐ ngày 05/8/2020 về Tranh chấp Hôn nhân và gia đình, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 67/2020/QĐXX-ST ngày 15 tháng 8 năm 2020 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị T, sinh năm 1992. Đăng ký HKTT: Thôn An Thượng, xã Thượng Vực, huyện Chương Mỹ, Tp Hà Nội và chỗ ở: Số nhà 46, Hai Bà Trưng, phường Phương Lâm, Tp Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình. Có mặt.

2. Bị đơn: Anh Cao Đình M, sinh năm 1987. Đăng ký HKTT: Thôn An Thượng, xã Thượng Vực, huyện Chương Mỹ, Thành phố Hà Nội. Hiện đang chấp hành án phạt tù tại Trại giam Thanh Phong, tỉnh Thanh Hóa.

Vắng mặt có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn khởi kiện xin ly hôn và bản tự khai của chị Nguyễn Thị T trình bày: Chị có đăng ký kết hôn với anh Cao Đình M, trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Thượng Vực, huyện Chương Mỹ, TP Hà Nội ngày 20/03/2012. Sau khi kết hôn hai vợ chồng sống với nhau hạnh phúc được một thời gian. Trong quá trình chung sống, vợ chồng có những mâu thuẫn bất hòa xuất phát từ việc quan điểm sống, lối sống không hợp nhau. Vợ chồng ly thân từ năm 2015 đến nay không quan tâm gì đến nhau nữa. Trong năm 2018 anh M bị

- 2 -

bắt và chấp hành án phạt tù tại Trại giam Thanh Phong. Quá trình anh M chấp hành án vợ chồng không gặp gỡ. Nay chị T xác định không còn tình cảm gì nên đề nghị ly hôn với anh M.

Về con chung: Anh chị có 1 con chung là cháu Cao Ngọc Linh Chi, sinh ngày 28/4/2014. Nếu trong trường hợp ly hôn thì chị T xin nuôi con chung.

Về tài sản chung: Chị T không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Bị đơn anh Cao Đình M trình bày: Anh có đăng ký kết hôn với chị Nguyễn Thị T, sinh năm 1992, trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại UBND xã Thượng Vực, huyện Chương Mỹ, Tp Hà Nội năm 2012. Sau khi kết hôn thì hai vợ chồng sống với nhau hạnh phúc đến năm 2015 thì anh bị bắt và phải đi chấp hành án tại Trại giam Thanh Phong. Quá trình anh chấp hành án thì chị T không vào thăm gặp. Nay anh được biết chị T khởi kiện yêu cầu ly hôn thì anh nhất trí.

Về con chung: Anh chị có 1 con chung là cháu Cao Ngọc Linh Chi, sinh ngày 28/4/2014. Nếu ly hôn anh xin giao cháu Chi cho chị T nuôi vì anh đang phải chấp hành án không nuôi được.

Về tài sản chung: Vợ chồng anh không có tài sản chung.

Quá trình giải quyết vụ án. Anh M có Đơn đề nghị giải quyết, xét xử vắng mặt do anh đang chấp hành án tại Trại giam Thanh Phong không thể tham gia được.

Tại phiên Tòa chị T giữ nguyên quan điểm đề nghị được ly hôn với anh M và xin được nuôi con chung. Về tài sản không có nên không yêu cầu giải quyết.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chương Mỹ có ý kiến: Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã thực hiện đầy đủ các quy định về tố tụng dân sự, tạo điều kiện cho các bên được trình bày quan điểm theo đúng quy định. Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án là đúng quy định của pháp luật. Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị T. Về hôn nhân xử chị T được ly hôn với anh M. Về con chung: Giao cháu Cao Ngọc Linh Chi, sinh ngày 28/4/2014 cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng. Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con chung cho anh M đến khi có thay đổi khác. Chị T phải chịu án phí theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

. Về tố tụng: Chị T đã làm đơn khởi kiện theo mẫu và nộp tiền tạm ứng án phí đúng quy định của pháp luật. Anh M đăng ký hộ khẩu thường trú tại Thôn An Thượng, xã Thượng Vực, huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội. Hiện anh M

- 3 -

đang chấp hành án tại Trại giam Thanh Phong nhất trí việc chị T khởi kiện tại Tòa án huyện Chương Mỹ. Do đó Tòa án nhân dân huyện Chương Mỹ giải quyết là đúng về thẩm quyền.

. Về nội dung: Hôn nhân giữa chị T và anh M trên cơ sở có tìm hiểu, có đăng ký kết hôn tại cơ quan có thẩm quyền là hôn nhân hợp pháp. Tuy nhiên cuộc sống chung không hạnh phúc. Nguyên nhân do vợ chồng không bảo ban được nhau, vợ chồng có quá nhiều điểm bất đồng trong lối sống, quan điểm sống, vợ chồng anh chị cũng có thời gian sống ly thân nhiều năm. Từ năm 2015 đến nay anh M chấp hành án phạt tù có thời hạn tại Trại giam Thanh Phong. Chị T nhiều năm không thăm gặp, quan tâm đến anh M. Điều này chứng tỏ hôn nhân giữa chị T và anh M đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Việc chị T có đơn đề nghị ly hôn với anh M là hoàn toàn tự nguyện và có căn cứ phù hợp với Điều 56 luật hôn nhân gia đình nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

. Về con chung: Vợ chồng anh, chị có 1 con chung là cháu Cao Ngọc Linh Chi, sinh ngày 28/4/2014. Khi ly hôn chị T xin nuôi con chung, anh M nhất trí giao con chung cho chị T vì anh đang chấp hành án không thể nuôi được. Xét yêu cầu của các bên là hoàn toàn tự nguyện, nên Hội đồng xét xử chấp nhận. Giao con chung là cháu Cao Ngọc Linh Chi, sinh ngày 28/4/2014 cho chị T tiếp tục chăm sóc nuôi dưỡng đến khi trưởng thành hoặc đến khi có thay đổi khác. Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con chung cho anh M đến khi có yêu cầu khác. Anh M có quyền thăm nom con chung, không ai được ngăn cản.

[4.] Về tài sản chung: Chị T, anh M đều thừa nhận vợ chồng không có tài sản chung và không vay nợ ai, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

. Về án phí: Căn cứ Điểm a khoản 5 Điều 27 Chương III Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án xử thì chị T phải nộp 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào các Điều 56; 81; 82; 83 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Điểm a khoản 5 Điều 27 Chương III Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

Xử: Chị Nguyễn Thị T được ly hôn anh Cao Đình M.

Về con chung: Xác nhận chị T, anh M có 01 con chung là cháu Cao Ngọc Linh Chi, sinh ngày 28/4/2014. Giao cháu Chi cho chị T chăm sóc nuôi dưỡng

- 4 -

cho đến khi trưởng thành hoặc đến khi có thay đổi khác. Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con chung cho anh M đến khi có yêu cầu khác. Sau khi chấp hành án anh M có quyền thăm nom con chung, không ai được ngăn cản.

Về tài sản chung, công nợ chung: Hai bên đều thừa nhận không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về án phí: Chị Nguyễn Thị T phải nộp 300.000 đồng (ba trăm nghìn) đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, được đối trừ số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số AA/2015/0004969 ngày 05/8/2020 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Chương Mỹ.

Áp dụng Điều 271; Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự báo chị T biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, anh M có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án.

TM.HỘI ĐỒNG XETSD XỬ

Cỡ chữ