- Tranh chấp gì? án hình sự — "bản án hình sự - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Điểm g Khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 46; Điều 47 của Bộ
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH BÌNH DƯƠNG Bản án số: 347/2024/HS-ST Ngày: 13 - 12 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Bạch Tuyết.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Dương Thị Bạn
2. Ông Lê Văn Công
- Thư ký phiên tòa: Bà Thái Thị Yến - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thuận
An, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương
tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng N - Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Thuận An,
tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 401/2024/TLST-HS ngày 29 tháng 11 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 426/2024/QĐXXST
- HS ngày 03 tháng 12 năm 2024 đối với bị cáo:
Trần Văn L (tên gọi khác: Không), sinh năm 1990 tại tỉnh Hà Tĩnh; số Căn cước
công dân: 042090006139 do Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội cấp ngày 06/02/2024; nơi thường trú: Thôn T, xã P, tỉnh Hà Tĩnh; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn B, sinh năm 1960 và Nguyễn Thị L1, sinh năm 1962; Tiền án:
+ Ngày 07/01/2015 bị Tòa án nhân dân huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh xử phạt 09
tháng tù nhưng cho hưởng án treo; thời gian thử thách 18 tháng về tội Cố ý gây thương tích theo Bản án số 01/2015/HS-ST.
+ Ngày 04/7/2019, bị Tòa án nhân dân thị xã (nay là thành phố) Dĩ An xử phạt
01 năm 06 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản theo Bản án số 205/2019/HS-ST.
+ Ngày 31/10/2019 bị Tòa án nhân dân thị xã (nay là thành phố) Dĩ An xử phạt
01 năm 03 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo Bản án số 354/2019/HS-ST. Tổng hợp hình phạt với Bản án số 205/2019/HS-ST buộc chấp hành hình phạt chung của cả hai bản án là 02 năm 09 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ 16/3/2019.
- Tiền sự: Ngày 15/3/2023, bị Tòa án nhân dân thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương
áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn 15 tháng. Chấp hành xong ngày 29/12/2023.
Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 03/9/2024 đến nay. Có mặt.
- Bị hại: Ông Nguyễn Văn B1, sinh năm 1974; địa chỉ: Số C, Khu phố B, phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Duy P, sinh năm 1986; địa chỉ: Ấp P, xã P, huyện N, tỉnh Đồng Nai. Vắng mặt.
- Người làm chứng: Ông Phan Văn Đ, sinh năm 1990; ông Nguyễn Văn C, sinh năm 1990; ông Trần Văn T, sinh năm 1985. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án
được tóm tắt như sau:
Khoảng 13 giờ 30 phút ngày 02/9/2024, Trần Văn L điều khiển xe mô tô biển số
38AC-037.67 đến quán cà phê không nhớ tên để gặp T1, sau đó L điều khiển xe chờ T1 đi tìm tài sản, trên đường đi, T1 nói L dừng xe để T1 tháo biển số 38AC-037.67 bỏ vào cốp xe và thay bằng biển số 63B1-638.84 do T1 chuẩn bị từ trước để tránh bị phát hiện.
Khi cả hai đến trước căn nhà tại địa chỉ số C, khu phố B, phường B, thành phố T,
tỉnh Bình Dương thì phát hiện xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu xanh, gắn biển số 60C2-803.92 do ông Nguyễn Văn B1 là chủ sở hữu để ở sân không có người trông coi. L ngồi trên xe mô tô gắn biển số 63B1-638.84 để cảnh giới còn T1 lén lút đẩy cổng bước vào dùng 01 cây đoản bẻ khóa chiếc xe rồi dắt chiếc xe ra ngoài thì bị ông B1 phát hiện truy hô và chạy bộ đuổi theo. L và T1 điều khiển 02 xe mô tô nhanh chóng bỏ chạy thì có ông Phan Văn Đ nghe tiếng truy hô nên đuổi theo L và T1. Khi đến đoạn đường B thì ông Đ vượt lên dùng chân đạp vào xe mô tô kiểu dáng sirius màu đỏ - đen làm cho Trần Văn L ngã xuống đường; đồng thời xe mô biển số 60C2-803.92 do Phan Đình T1 điều khiển cũng té ngã xuống đường, T1 và L bỏ chạy theo 02 hướng khác nhau. L bỏ chạy vào khu dân cư Đ thuộc Khu phố B, phường B thì bị lực lượng tham gia đảm bảo an ninh, trật tự của Khu phố B và người dân bắt giữ bàn giao cho Công an phường B. Riêng Phan Đình T1 đã bỏ chạy thoát.
Vật chứng thu giữ:
- 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu xanh, gắn biển số 60C2-803.92,
số máy JA39E1631885, số khung 3916LY293522.
- 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, màu đỏ đen, gắn biển số 63B1-
638.84, số máy E32VE-873831, số khung RLCUE3710RY496712.
- 01 (một) biển số 38AC-037.67 được để trong cốp xe máy đang gắn biển số
63B1-638.84.
- 01 (một) mũi vít lục giác số 8, dài 13cm, có một đầu được mài dẹp dài khoảng
6,5cm, màu trắng, bằng kim loại.
- 01 tuýp mở vít số 8, dài 20cm, bằng kim loại, màu trắng, có chữ “Rebel 8mm".
Tại Kết luận định giá tài sản ngày 05/9/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong
Tố tụng hình sự thành phố T xác định: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu xanh, gắn biển số 60C2-803.92 trị giá 11.000.000 đồng (Mười một triệu đồng).
Tại bản Cáo trạng số 361/CT-VKS-TA ngày 29 tháng 11 năm 2024 của Viện kiểm
sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Trần Văn L về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa:
Đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo về tội danh như
cáo trạng đã truy tố, phân tích tính chất, hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Trần Văn L mức hình phạt từ 03 năm đến 04 năm tù.
Về xử lý vật chứng và các biện pháp tư pháp:
- Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu xanh, gắn biển số 60C2-
803.92 quá trình điều tra xác định do ông Nguyễn Duy P đứng tên sở hữu. Năm 2021 ông P bán xe mô tô trên cho ông Nguyễn Văn B1 nhưng chưa làm thủ tục sang tên, ông P không có yêu cầu gì đối với xe mô tô trên. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra công an thành phố T đã ra quyết định xử lý vật chứng trả lại cho ông B1.
- Đối với 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, màu đỏ đen, 01 (một) biển
số 38AC-037.67, quá trình điều tra xác định do Trần Văn L đứng tên sở hữu. Đây là phương tiện của L sử dụng vào mục đích phạm tội do đó đề nghị tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.
- Đối với 01 (một) biển số 63B1- 638.84 quá trình điều tra xác định được cấp cho
xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision màu đỏ, số khung RLHJF5818GY172804, số máy JF66E0172838 do bà Huỳnh Anh T2 đứng tên sở hữu. Bà T2 khai nhận hiện tại vẫn đang sở hữu và sử dụng đối với xe mô tô nêu trên, không có yêu cầu gì đối với biển số 63B1- 638.84 mà Cơ quan điều tra thu giữ. Do không có giá trị sử dụng nên đề nghị tịch thu tiêu hủy.
- Đối với 01 (một) mũi vít lục giác số 8, dài 13cm, có một đầu được mài dẹp dài
khoảng 6,5cm, màu trắng, bằng kim loại và 01 tuýp mở vít số 8, dài 20cm, bằng kim loại, màu trắng, có chữ “Rebel 8mm" là công cụ bị cáo sử dụng vào mục đích phạm tội, không còn giá trị sử dụng do đó đề nghị tịch thu tiêu hủy.
Đối với đối tượng tên Phan Đình T1, Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh
nhưng chưa xác định được lai lịch, địa chỉ nên Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh làm rõ, xử lý sau.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại ông Nguyễn Văn B1 đã nhận lại tài sản và không
có yêu cầu gì nên đề nghị Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.
Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội giống nội dung Viện
kiểm sát truy tố. Lời nói sau cùng bị cáo ăn năn hối cải và xin được giảm nhẹ hình phạt để bị cáo sớm trở về với gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh
tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Trong các giai đoạn tố tụng từ khi khởi tố vụ án cho đến khi kết thúc việc truy
tố, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là đúng quy định của pháp luật.
Tại phiên toà, bị cáo Trần Văn L đã khai nhận hành vi trộm cắp tài sản như
nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An đã truy tố. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, lời khai của bị hại và những chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có căn cứ kết luận:
Khoảng 13 giờ 30 phút, ngày 02/9/2024, tại căn nhà địa chỉ số C, Khu phố B,
phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương, Trần Văn L có hành vi cảnh giới cho đối tượng Phan Đình T1 (hiện chưa rõ lai lịch) để T1 sử dụng đoản bẻ khóa và lén lút chiếm đoạt 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu xanh, biển số 60C2-803.92 trị giá 11.000.000 đồng của ông Nguyễn Văn B1.
Theo Bản án hình sự sơ thẩm số 354/2019/HSST ngày 31/10/2019 của Tòa án
nhân dân thị xã (nay là thành phố ), tỉnh Bình Dương nhận định bị cáo thuộc trường hợp tái phạm, nay chưa được xóa án tích bị cáo lại tiếp tục hành vi phạm tội do cố ý thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm.
Như vậy, hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của bị hại, đã
đủ yếu tố cấu thành tội Trộm cắp tài sản, quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm
quyền sở hữu tài sản của công dân, làm mất an ninh trật tự tại nơi bị cáo gây án. Bị cáo là người còn trẻ, có khả năng lao động lẽ ra bị cáo phải tìm cho mình một nghề nghiệp ổn định, tích cực lao động để tạo ra của cải vật chất nuôi sống bản thân, chăm lo cho gia đình nhưng vì tham lam, lười lao động mà bị cáo đã liên tục dấn thân vào con đường phạm tội. Do vậy, cần xử phạt bị cáo mức án thật nghiêm để trừng trị và giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt, đồng thời phòng ngừa tội phạm chung trong xã hội.
Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt cần xem xét toàn diện về nhân thân, các
tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo.
Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu, ngày 15/3/2023, bị Tòa án nhân dân thị
xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn 15 tháng. Chấp hành xong ngày 29/12/2023.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm không có tình tiết tăng
nặng.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên
tòa, bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, xét đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Lời đề nghị của đại diện Viện kiểm sát có căn cứ, đúng pháp luật nên được
chấp nhận.
Về xử lý vật chứng và các biện pháp tư pháp:
- Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu xanh, gắn biển số 60C2-
803.92 quá trình điều tra xác định do ông Nguyễn Duy P đứng tên sở hữu. Năm 2021 ông P bán xe mô tô trên cho ông Nguyễn Văn B1 nhưng chưa làm thủ tục sang tên, ông P không có yêu cầu gì đối với xe mô tô trên. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T đã ra quyết định xử lý vật chứng trả lại cho ông B1 là phù hợp.
- Đối với 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, màu đỏ đen, 01 (một) biển
số 38AC-037.67, quá trình điều tra xác định do Trần Văn L đứng tên sở hữu. Đây là phương tiện của L sử dụng vào mục đích phạm tội do đó đại diện Viện kiểm sát đề nghị tịch thu nộp ngân sách Nhà nước là phù hợp.
- Đối với 01 (một) biển số 63B1- 638.84 quá trình điều tra xác định được cấp cho
xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision màu đỏ, số khung RLHJF5818GY172804, số máy JF66E0172838 do bà Huỳnh Anh T2 đứng tên sở hữu. Bà T2 khai nhận hiện tại vẫn đang sở hữu và sử dụng đối với xe mô tô nêu trên, không có yêu cầu gì đối với biển số 63B1- 638.84 mà Cơ quan điều tra thu giữ. Do không có giá trị sử dụng nên đại diện Viện kiểm sát đề nghị tịch thu tiêu hủy là phù hợp.
- Đối với 01 (một) mũi vít lục giác số 8, dài 13cm, có một đầu được mài dẹp dài
khoảng 6,5cm, màu trắng, bằng kim loại và 01 tuýp mở vít số 8, dài 20cm, bằng kim loại, màu trắng, có chữ “Rebel 8mm" là công cụ bị cáo sử dụng vào mục đích phạm tội, không còn giá trị sử dụng do đó đại diện Viện kiểm sát đề nghị tịch thu tiêu hủy là phù hợp.
Đối với đối tượng tên Phan Đình T1, Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh
nhưng chưa xác định được lai lịch, địa chỉ nên Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh làm rõ, xử lý sau.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại ông Nguyễn Văn B1 đã nhận lại tài sản và không
có yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm
theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Điểm g Khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 46; Điều 47 của Bộ
luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017;
- Điều 106; Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;
- Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016
của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
1. Về trách nhiệm hình sự:
Tuyên bố bị cáo Trần Văn L phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt bị cáo Trần Văn L 03 (ba) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính
từ ngày 03 tháng 9 năm 2024.
2. Về xử lý vật chứng và các biện pháp tư pháp:
Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Yamaha
Sirius, màu đỏ đen, số máy E32VE-873831, số khung RLCUE3710RY496712 (không kiểm tra tình trạng bên trong máy, không chìa khóa, không kiếng, xe bị hư hỏng phần đầu); 01 (một) Biển số 38AC-037.67.
Tịch thu tiêu hủy 01 (một) Biển số 63B1- 638.84; 01 (một) mũi vít lục giác số 8,
dài 13cm, có một đầu được mài dẹp dài khoảng 6,5cm, màu trắng, bằng kim loại và 01 tuýp mở vít số 8, dài 20cm, bằng kim loại, màu trắng, có chữ “Rebel 8mm".
(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 29/11/2024 tại Chi cục Thi hành án
dân sự thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương).
3. Về án phí: Bị cáo Trần Văn L phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên
án. Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Dương; - VKSND tỉnh Bình Dương; - VKSND thành phố Thuận An; - Công an thành phố Thuận An; - Chi cục THADS thành phố Thuận An; - Sở tư pháp tỉnh Bình Dương; - Bị cáo; - Người tham gia tố tụng; - Lưu HS, VT. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thị Bạch Tuyết |