vanban.org

Bản án 347/2024/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về bạo lực gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Bà Trần Thị Hồng T về việc “Ly hôn và tranh chấp nuôi con”.

Về hôn nhân: Cho Bà Trần Thị Hồng T được ly hôn với Ông Nguyễn Văn Đ. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Trần Bảo N, sinh ngày 25/8/2013 và Nguyễn Trần Ph, sinh ngày 09/12/2016 cho Bà Trần Thị Hồng T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Ông Nguyễn Văn Đ không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Ông Đ có… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về bạo lực gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bfa Trần Thị Hồng T xin ly hôn với ông Nguyễn Văn Đ"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Bà Trần Thị Hồng T về việc “Ly hôn và tranh chấp nuôi con”.
  • Căn cứ chính? Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình xử giao cháu Ngọc và cháu Nhân; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THỊ XXA ĐIỆN BÀN
TỈNH QUẢNG NAM

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 347/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 27-12-2024
V/v: “Ly hôn và tranh chấp nuôi con
chung”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ ĐIỆN BÀN, TỈNH QUẢNG NAM

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Văn Thể.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Trương Đắc Hưng.

2. Ông Nguyễn Lương Thành.

- Thư ký phiên tòa: Bà Trương Thị Quý, Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Điện Bàn tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Đình Nhật Nam - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 12 năm 2024, tại Hội trường Tòa án nhân dân thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 199/2024/TLST-HNGĐ ngày 03/10/2024 về việc “Ly hôn và tranh chấp nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 307/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 20 tháng 11 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 114/2024/QĐST-HNGĐ ngày 11 tháng 12 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Trần Thị Hồng T, sinh năm: 1983. Có mặt.

- Bị đơn: Ông Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1984. Vắng mặt.

Cùng địa chỉ: Tổ 11, khối phố H, phường Đ, thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn - Bà Trần Thị Hồng T trình bày: Bà và ông Đ kết hôn với nhau năm 2013, có tổ chức đăng ký kết hôn tại UBND phường Đ, thị xã Điện Bàn; việc kết hôn là tự nguyện. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do ông Đ thường xuyên cờ bạc, rượu chè và nhiều lần đánh đập, xúc phạm tinh thần của bà. Vì con nên bà nhẫn nhịn chịu đựng để nuôi con, nhưng đến nay ông Đ vẫn không thay đổi mà tiếp tục có hành vi bạo lực, đánh đập bà. Gần đây nhất là vào ngày 07/10/2024, ông Đ có hành vi chửi bới và đánh đập bà bị chấn thương vùng mặt phải nhập viện. Nay bà nhận thấy hôn nhân không có hạnh phúc và không thể tiếp tục chung sống với ông Đ được nữa nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với Ông Nguyễn Văn Đ.

Về con chung: Trong thời gian chung sống, bà T và ông Đ có 02 con chung tên: Nguyễn Trần Bảo N, sinh ngày 25/8/2013 và Nguyễn Trần Ph, sinh ngày 09/12/2016. Khi ly hôn, bà T nguyện vọng được nuôi 02 con và không yêu cầu ông Đ cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại bản tự khai ngày 24/10/2024, bị đơn - Ông Nguyễn Văn Đ trình bày: Ông thống nhất với bà T về thời gian, điều kiện kết hôn. Về nguyên nhân mâu thuẫn là do kho khăn về kinh tế nên vợ chồng bất đồng quan điểm, không có tiền nói chung; tuy nhiên ông Đ vẫn còn yêu thương vợ con nên không đồng ý ly hôn.

Về con chung: Trong quá trình chung sống, vợ chồng có 02 con chung như Bà Trần Thị Hồng T trình bày là đúng, trường hợp bà T yêu ly hôn thì ông nguyện vọng được nuôi con và không yêu cầu cấp dưỡng.

Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Điện Bàn phát biểu ý kiến:

Về tố tụng: Trong quá trình thụ lý, giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký Tòa án đã tuân thủ các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại các Điều 70, 71 của Bộ luật tố tụng dân sự, bị đơn chưa thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các Điều 51, Điều 56, Điều 81 và Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, bà T được ly hôn với ông Đ và giao con chung cho bà T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng nuôi con: Bà T không yêu cầu nên không đề nghị xem xét. Về tài sản chung, nợ chung: Không đề nghị xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử xét thấy:

Về tố tụng: Nơi cư trú của Ông Nguyễn Văn Đ tại khối Hà My Trung, phường Điện Dương, thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam; bà T yêu cầu ly hôn và nuôi dưỡng con chung. Vì vậy, quan hệ pháp luật giải quyết là “Ly hôn và tranh chấp về nuôi con” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Điện Bàn theo quy định tại khoản 1 Điều 28, 35, 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Ông Đ đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt tại phiên tòa sơ thẩm, do đó Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn tại phiên tòa.

Về quan hệ hôn nhân: Bà T và ông Đ tự nguyện tìm hiểu và đến với nhau, có đăng ký kết hôn tại UBND phường Điện Dương, thị xã Điện Bàn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 30 ngày 27/3/2013 nên đây là hôn nhân hợp pháp.

Trong quá trình chung sống, vợ chồng ông Đ và bà T phát sinh mâu thuẫn; theo bà T nguyên nhân là do ông Đ không lo làm ăn, cờ bạc và có hành vi bạo lực gia đình, nhiều lần đánh đập, xúc phạm bà nên mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng, không thể hàn gắn được. Vì vậy bà yêu cầu được ly hôn với ông Đ.

Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng ông Đ vắng mặt nên Tòa án không tiến hành phiên họp, hòa giải được giữa các đương sự. Tại phiên tòa, ông Đ tiếp tục vắng mặt không có lý do. Điều này thể hiện mâu thuẫn trong cuộc sống vợ chồng giữa bà T và ông Đ không thể hòa giải được, làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy yêu cầu ly hôn của bà T là có căn cứ và áp dụng các Điều 51, 56 Luật Hôn nhân và gia đình, xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của của bà T.

Về nuôi con chung: Bà T yêu cầu được nuôi dưỡng con chung và ông Đ cũng có nguyện vọng được nuôi con nhưng vắng mặt tại các phiên hòa giải và tại phiên tòa không có lý do; như vậy ông Đ đã từ bỏ quyền, nghĩa vụ của mình và không quan tâm gì đến quyền lợi của các con. Xét thấy, hiện nay bà T đã ra ở riêng và các con đang sống chung với bà T. Tại các bản tự khai, cháu Ngọc và cháu Nhân đều có nguyện vọng được ở với mẹ. Vì vậy, để đảm bảo sự phát triển về mọi mặt của các cháu trong cuộc sống, sinh hoạt và học tập; Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình xử giao cháu Ngọc và cháu Nhân cho bà T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục là phù hợp.

Về cấp dưỡng nuôi con: Bà T không yêu cầu nên không xét.

Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu giải quyết nên không xét.

Về án phí: Bà Trần Thị Hồng T phải chịu án phí ly hôn theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39, khoản 4 Điều 147 và khoản 2 Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51, Điều 56, khoản 2 Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và Gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Bà Trần Thị Hồng T về việc “Ly hôn và tranh chấp nuôi con”.

1. Về hôn nhân: Cho Bà Trần Thị Hồng T được ly hôn với Ông Nguyễn Văn Đ.

2. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Trần Bảo N, sinh ngày 25/8/2013 và Nguyễn Trần Ph, sinh ngày 09/12/2016 cho Bà Trần Thị Hồng T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Ông Nguyễn Văn Đ không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Ông Đ có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung, không ai được cản trở. Các đương sự có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con.

3. Về án phí Hôn nhân gia đình: 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), Bà Trần Thị Hồng T phải chịu nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí bà T đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0014718 ngày 03/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam.

4. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có mặt có quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 27/12/2024); bị đơn vắng mặt có quyền đơn kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ