- Tranh chấp gì? án hình sự — "Tíc Sỷ Hả Păn N và Kẹo Lạ Khon Vin Khăm Pá S - phạm tội vận chuyển trái phép chất ma túy (điều 250 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLH…"
- Tòa quyết gì? . Căn cứ điểm a khoản Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Căn cứ chính? Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TẠI ĐÀ NẴNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 347/2023/HSPT Ngày: 28 - 8 - 2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Tấn Long
Các thẩm phán:
Ông Đặng Kim Nhân
Ông Trần Quốc Cường
- Thư ký phiên tòa: Bà Đoàn Thị Thu Hiền, Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Chiến, Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 8 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình,
Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng xét xử phúc thẩm lưu động công khai vụ án hình sự thụ lý số 42 2023 T T-H ngày 03 tháng 4 năm 2023 đối v i các ị cáo: T c Hả ăn N và Kẹo ạ Khon Vin Khăm á về tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy”, do có kháng cáo của các ị cáo đối v i Bản án hình sự sơ thẩm số 07 2023 H - T ngày 28-2-2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình.
- Bị cáo có kháng cáo:
1. Tíc Sỷ Hả ăn N; sinh ngày 29 tháng 6 năm 996, tại Cộng hòa dân
chủ nhân dân ào. Nơi cư trú: Bản , huyện T, tỉnh Viêng Chăn, Cộng hòa dân chủ nhân dân 3; nghề nghiệp: làm ruộng; trình độ văn hoá: 0 2; dân tộc: ào L; gi i t nh: nam; tôn giáo: Đạo hật; quốc tịch: ào; con ông Mun Hả ăn N1 chết và à Đ; vợ: y Chăn Đa đã ly hôn và có 0 con; tiền án: không; tiền sự: không; ị tạm giữ, sau chuyển tạm giam từ ngày 2
202 đến nay tại Trại tạm giam Công an tỉnh Q; có mặt
2. Kẹo L4; sinh ngày 05 tháng 8 năm 970, tại Cộng hòa dân chủ nhân dân 3; nơi cư trú: Bản , huyện T, tỉnh Viêng Chăn, Cộng hòa dân chủ nhân dân ào. nghề nghiệp: uôn án; trình độ văn hoá: 2 2; dân tộc: ào ; gi i t nh: nam; tôn giáo: Đạo hật; quốc tịch: ào; con ông Vin Khăm á chết và à Bun Khăm Bá
chết ; vợ X và 03 con; tiền án: không; tiền sự: không; ị tạm giữ, sau chuyển tạm giam từ ngày 2
202 đến nay tại Trại tạm giam Công an tỉnh Q; có mặt.
- Người bào chữa cho bị cáo T c Hả ăn N2: Ông Nguyễn Thanh T - uật sư Công ty TNHH MTV Đ , thuộc Đoàn uật sư tỉnh Q; địa chỉ: số nhà A, đường X, thành phố Đ, tỉnh Quảng Bình; có mặt.
- Người bào chữa cho bị cáo Kẹo ạ Khon Vin K P: Ông Dương Mênh M - uật sư Văn phòng 5, thuộc Đoàn uật sư tỉnh Q; địa chỉ: ố A đường Đ, phường Q, thị xã B, tỉnh Quảng Bình; có mặt.
- Người phiên dịch cho các bị cáo T c 2 Hả ăn N và Kẹo ạ Khon V Khăm P: Bà Nguyễn Thị Xuân , Văn phòng D, địa chỉ: A Ông Í, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị, có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
[1] Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và bản án sơ thẩm, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào ngày 9 202 , T c Hả ăn N2 (sau đây gọi tắt là N2) và Kẹo ạ Khon V Khăm á (sau đây gọi tắt là S) được một người đàn ông tên là L2 quốc tịch ào hẹn đi vận chuyển ma túy. ệ hứa sẽ trả công cho mỗi người 3.500.000 k p ào thì N2 và S đồng ý. au đó, L2 cùng N2 và S gặp nhau rồi sử dụng xe ô tô không nh iển kiểm soát của S xuất phát từ tỉnh Viêng Chăn đi về thị xã T, tỉnh Khăm Muộn. Đến khoảng 7 giờ ngày 9 202 , cả 03 người đến thị xã T rồi đón thêm một người đàn ông tên V1, sau đó ốn người thuê nhà nghỉ ngủ lại tại thị xã T. Đến 3 giờ ngày 20 202 , N2, S, L2 và V1 tiếp tục đi từ thị xã T, tỉnh Khăm Muộn về thị trấn , tỉnh Khăm Muộn rồi thuê phòng nghỉ lại. Đến khoảng 2 giờ 30 phút ngày 20 202 , L2 lái xe ô tô chở N2 và V1 về lại thị xã T gặp một người đàn ông tên N3, quốc tịch ào nhận 02 a lô và 0 ao lác ên trong chứa ma túy. Khi nhận được ma túy, L2, N2 và V1 ỏ ma túy lên xe rồi chở về nhà nghỉ đã thuê tại thị trấn ; L2 và N2 về phòng nghỉ còn V1 đem ma túy đưa đi cất giấu. Đến khoảng 04 giờ ngày 2
202 , N2, S, L2 và V1 đi xe ô tô không nh iển kiểm soát đến gần khu vực cửa khẩu của ào rồi ỏ xe lại đi ộ vào rừng, đến địa điểm cất giấu ma túy từ trư c, lấy ma túy rồi vận chuyển qua iên gi i Việt Nam để giao cho người mua. Khi đến khu vực khe suối Cha L, cách cột mốc 527 theo hư ng đông ắc về ph a Việt Nam khoảng 500m, thuộc địa phận xã D, huyện M, tình Q thì N2 và S ị lực lượng Biên phòng của Việt Nam phát hiện ắt giữ cùng 02 a lô và 0 ao lác ên trong cất giấu tổng cộng 304.000 viên hồng phiến; các đối tượng L2 và V1 lợi dụng địa hình rừng núi hiểm trở đã chạy trốn B 6 -19, 108 - 171).
Tại giám định số: 298 GĐ- C09 ngày 24 202 của Phòng K2 Công an tỉnh Q kết luận: 300.960 (ba trăm nghìn chín trăm sáu mươi) viên nén hình tròn dạng thuốc tân dược màu hồng, trên một mặt mỗi viên có in chữ “WY” là chất ma túy, loại Methamphetamine có tổng khối lượng 27.700,55 gam (hai mươi bảy nghìn bảy trăm phẩy năm mươi lăm gam) và 3.040 (ba nghìn không trăm bốn mươi) viên nén hình tròn dạng thuốc tân dược màu xanh, trên một mặt mỗi viên có in chữ “WY” không phải là chất ma túy, có khối lượng 274,95 gam B 25 - 29).
Methamphetamine nằm trong danh mục các chất ma túy, số thứ tự: 323, danh mục II, Nghị định số 73 20 8 NĐ-C ngày 5 tháng 5 năm 20 8 của Ch nh phủ Nư c Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. uật phòng chống ma túy năm 2000 nghiêm cấm hành vi mua án, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng trái phép chất ma túy.
* Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật; xử lý vật chứng: Quá trình điều tra đã thu giữ các vật chứng, hiện đang được tạm giữ tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Quảng Bình để giải quyết theo vụ án gồm:
- 04 ốn hộp giấy ìa catton, trên có ghi “Vụ số 298 GĐ- C09”, trong đó: 0 một hộp “Mẫu ký hiệu A A và A B”; 0 một hộp “Mẫu ký hiệu A2A và A2B”; 0 một hộp “Mẫu ký hiệu A3A và A3B”;
- 0 một hộp ký hiệu “A4”, ên trong chứa toàn ộ vỏ ao gói đựng ma túy đã thu giữ, có các chữ ký của những người tham gia niêm phong vào các mép giáp lai, đóng dấu của Đồn Biên phòng cửa khẩu quốc tế C, được niêm phong ằng chữ ký của những người tham gia niêm phong, hình dấu của hòng K2 Công an tỉnh Q, ngoài cùng dán ăng d nh trong suốt.
- 0 một a lô màu xanh; 0 một a lô màu nâu; 0 một ao lác.
[2] Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 07/2023/HS-ST ngày 28 tháng 02 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình đã quyết định:
Căn cứ điểm khoản 4 Điều 250; điểm s khoản Điều 5 ; Điều 40 và Điều 5; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 06, khoản 2 Điều 36 và khoản 4 Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản Điều 23 Nghị quyết số: 326 20 6 UBTVQH 4 ngày 30 2 20 6 của Ủy an Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án ph , lệ ph Tòa án, tuyên xử:
Về tội danh: Tuyên ố ị cáo T c 2 Hả ăn N và Kẹo ạ Khon Vin Khăm á phạm tội “Vận chuyển trái phép chất ma tuý”.
Về hình phạt: Xử phạt ị cáo T c 2 Hả ăn Nha tử hình; tiếp tục tạm giam ị cáo để đảm ảo thi hành án.
Xử phạt ị cáo Kẹo ạ Khon Vin K P tử hình; tiếp tục tạm giam ị cáo để đảm ảo thi hành án.
Ngoài ra, ản án sơ thẩm còn quyết định về phần xử lý vật chứng, án ph và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật. [3] Kháng cáo:
Ngày 06-3-2023 ị cáo T c 2 Hả ăn N và ị cáo Kẹo ạ Khon V Khăm P cùng có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, ghi lý do kháng cáo là hình phạt quá nặng.
[4] Tại phiên tòa phúc thẩm:
Bị cáo T c H giữ nguyên kháng cáo, trình ày lý do kháng cáo là ị cáo chỉ là người đi theo, khi ị ắt không trực tiếp mang vác ma túy; ị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn, vợ ly hôn, con thì còn nhỏ dại nên làm thuê để nuôi sống gia đình.
Bị cáo Kẹo ạ Khon V Khăm P giữ nguyên kháng cáo, trình ày lý do kháng cáo là ị cáo chỉ là người đi theo các đối tượng L2 và V1, khi ị ắt không phải là người mang vác ma túy, không iết số lượng ma túy ao nhiêu; gia đình có hoàn cảnh khó khăn nên đi làm thuê để kiếm sống.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng phát iểu ý kiến: tại giai đoạn phúc thẩm, Thẩm phán, Thư ký Tòa án, những người tiến hành tố tụng và tham gia tố tụng đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Về nội dung: đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận các kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của các ị cáo, giữ nguyên hình phạt của Bản án hình sự sơ thẩm đối v i ị cáo T c 2 Hả ăn N và ị cáo Kẹo ạ Khon Vin Khăm á 3.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định:
[ ] Về thủ tục tố tụng: các Cơ quan tiến hành tố tụng tỉnh Quảng Bình đã
thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và xét xử sơ thẩm không có ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
Đối v i nơi cư trú của ị cáo Kẹo ạ K Vin Khăm P, thì ị cáo khai nơi
sinh và cư trú tại Bản C, huyện T, tỉnh Viêng Chăn; đồng thời theo ý lịch ị can (bl 174 thì gia đình của ị cáo đều đang cư trú tại ản C, huyện T. Theo Văn ản trả lời của Bộ A ào ngày 20-9-2022 thì xác định ị cáo S3 có nơi cư trú là ản hôn Hè, huyện T, tỉnh Viêng Chăn.
Về hành vi phạm tội: Vào ngày 9 202 , N và S3 được một người đàn ông tên là L2 hứa sẽ trả công cho mỗi người 3.500.000 k p ào để vận chuyển ma túy thì cả hai ị cáo đồng ý. au đó N, S3 đi cùng L2 và một đối tượng khác tên V1 sử dụng xe ô tô không nh iển kiểm soát đến gặp một người đàn ông tên N3 để nhận 02 a lô và 0 ao lác ao tải , ên trong chứa ma túy và đem đi cất giấu tại khu rừng thuộc cửa khẩu của ào. Đến khoảng 04 giờ ngày 2
202 , cả ốn người đi ộ vào rừng và lấy toàn ộ số ma túy đã cất giấu rồi vận chuyển qua iên gi i Việt Nam. Khi đến khu vực khe suối Cha L, cách cột mốc iên gi i 527 khoảng 500m về ph a Việt Nam, thuộc địa àn xã D, huyện M, tỉnh Quảng Bình thì N và S3 ị lực lượng Biên phòng của Việt Nam phát hiện ắt giữ cùng toàn ộ tang vật gồm 02 a lô và 0 ao lác, ên trong chứa tổng cộng 304.000 viên hồng phiến, còn đối tượng L2 và V1 lợi dụng địa hình rừng núi hiểm trở đã chạy trốn.
Theo Kết luận giám định số: 298 GĐ- C09 ngày 24 202 của hòng K2 Công an tỉnh Q thì trong tổng số 304.000 viên ma túy tổng hợp hồng phiến đã thu giữ, có 300.960 (ba trăm nghìn chín trăm sáu mươi) viên nén hình tròn dạng thuốc tân dược màu hồng, trên một mặt mỗi viên có in chữ “WY” là chất ma túy, loại Methamphetamine có tổng khối lượng 27.700,55 gam (hai mươi bảy nghìn bảy trăm phẩy năm mươi lăm gam); còn lại 3.040 (ba nghìn không trăm bốn mươi) viên nén hình tròn dạng thuốc tân dược màu xanh, trên một mặt mỗi viên có in chữ “WY” không phải là chất ma túy, tổng khối lượng 274,95 gam (hai trăm bảy mươi tư phẩy chín lăm gam).
V i hành vi vận chuyển khối lượng chất ma túy 27.700,55 gam, loại Methamphetamine như nêu trên, các ị cáo N và S3 đã phạm vào tội “Vận chuyển trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm khoản 4 Điều 250 của Bộ luật Hình sự.
Về việc áp dụng các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các ị cáo đều là người trưởng thành và nhận thức được việc vận chuyển trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật của cả hai nư c Việt Nam và ào, nhưng các ị cáo vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Cả hai ị cáo không có tình tiết tăng nặng. Trong quá trình giải quyết vụ án, hai ị cáo luôn có thái độ thành khẩn trong khai áo, thể hiện sự ăn năn hối cải đối v i hành vi phạm tội đã thực hiện; vì vậy, các ị cáo N và S3 đều được Bản án sơ thẩm áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản Điều 5 Bộ luật Hình sự.
Xem xét về hình phạt: Hành vi vận chuyển ma túy của các ị cáo là đặc iệt nguy hiểm, ởi ma túy vừa gây hậu quả nguy hại cho sức khỏe và sự phát triển lành mạnh của con người, vừa là một trong những nguyên nhân làm phát sinh các tệ nạn xã hội và tội phạm khác. ố lượng ma túy các ị cáo vận chuyển là quá l n, nếu vận chuyển thành công sẽ gây hậu quả đặc iệt l n cho xã hội. Do đó, Bản án sơ thẩm đã áp dụng hình phạt nghiêm khắc nhất đối v i các ị cáo là phù hợp v i khối lượng ma túy mà các ị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự, ảo đảm đủ tác dụng răn đe và phòng ngừa chung. Các ị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt nhưng không có tình tiết, sự kiện làm thay đổi nội dung của vụ án, không có tình tiết giảm nhẹ m i, nên không có căn cứ chấp nhận kháng cáo; Hội đồng xét xử phúc thẩm giữ nguyên hình phạt của Bản án hình sự sơ thẩm đối v i cả 02 ị cáo T1 Hả ăn N và Kẹo ạ Khon Vin Khăm á 3.
Các quyết định khác còn lại của Bản án hình sự sơ thẩm không có
kháng cáo, kháng nghị nên Hội đồng xét xử phúc thẩm không xem xét.
Về án ph hình sự phúc thẩm, do kháng cáo không được chấp nhận nên
các ị cáo phải chịu mỗi ị cáo là 200.000 đồng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
. Căn cứ điểm a khoản Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Không chấp nhận kháng cáo của các ị cáo T1 Hả ăn N và Kẹo ạ Khon Vin Khăm ; giữ nguyên hình phạt của Bản án hình sự sơ thẩm số 07/2023/HS- T ngày 28 - 02 - 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình.
2. Áp dụng điểm khoản 4 Điều 250; điểm s khoản Điều 5 , Điều 40 và Điều 5, Điều 47 của Bộ luật Hình sự;
- Xử phạt ị cáo T1 Hả ăn N: Tử hình về tội “Vận chuyển trái phép chất ma tuý”.
- Xử phạt ị cáo Kẹo ạ Khon Vin K P: Tử hình về tội “Vận chuyển trái phép chất ma tuý”.
3. Căn cứ khoản 4 Điều 329 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tiếp tục tạm
giam các ị cáo T1 Hả ăn N và Kẹo ạ Khon V Khăm P để đảm ảo thi hành án.
Căn cứ điểm d khoản Điều 367 của Bộ luật Tố tụng hình sự: các ị cáo
T1 Hả ăn N, Kẹo ạ Khon V Khăm P được gửi đơn xin ân giảm án tử hình lên Chủ tịch nư c Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong thời hạn 07 ngày, kể từ ngày ản án có hiệu lực pháp luật ngày 28-8-2023).
4. Về án ph : căn cứ điểm a khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số: 326 20 6 UBTVQH 4 ngày 30 2 20 6 của Ủy an Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, án ph , lệ ph Tòa án: uộc các ị cáo T1 Hả ăn N và Kẹo ạ Khon Vin Khăm , mỗi ị cáo phải chịu nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án ph hình sự phúc thẩm. 5. Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không ị kháng cáo kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo kháng nghị. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND Tối cao Vụ ; - VK ND Cấp cao tại Đà Nẵng; - VKSND tỉnh Quảng Bình; - VK ND CC tại Đà Nẵng; - hòng H NV CA tỉnh Quảng Bình; - Cục THAD tỉnh Quảng Bình; - Trại tạm giam công an tỉnh Quảng Bình; - ở tư pháp tỉnh Quảng Bình; - Những người tham gia tố tụng; - ưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký Nguyễn Tấn Long |