vanban.org

Bản án 347/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Lê Minh H

Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa anh Lê Minh H và chị Lê Thị T. Án phí sơ thẩm: Anh Lê Minh H phải chịu tiền án phí hôn nhân sơ thẩm là 300.000 đồng, được trừ số tiền 300.000 đồng theo biên lai số 0007538 ngày 18/01/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Gò Công Đông. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Lê Minh H
  • Căn cứ chính? Luật Thi hành án dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN GÒ CÔNG ĐÔNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH TIỀN GIANG
Bản án số: 347/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 11/8/2022
V/v “Tranh chấp ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GÒ CÔNG ĐÔNG, TỈNH TIỀN GIANG

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Dũng.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Phạm Minh Đức

2. Bà Huỳnh Thị Tỏ

- Thư ký phiên tòa: Bà Cà Thị Lan, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Gò Công Đông.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Công Đông tham gia phiên tòa: Ông Trịnh Thanh Dũ, Kiểm sát viên.

Trong ngày 11 tháng 8 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Gò Công Đông xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình sơ thẩm thụ lý số 22/2022/TLST-HNGĐ ngày 20 tháng 01 năm 2022 về việc “Tranh chấp ly hôn”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 157/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 01 tháng 7 năm 2022 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Anh Lê Minh H, sinh năm xxxx, có mặt

Địa chỉ: Ấp D, xã P, huyện G, tỉnh Tiền Giang;

2. Bị đơn: Chị Lê Thị T, sinh năm xxxx, vắng mặt

HKTT: Ấp D, xã P, huyện G, tỉnh Tiền Giang;

Địa chỉ: Ấp G, xã T, huyện G, tỉnh Tiền Giang

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại đơn khởi kiện đề ngày 10 tháng 11 năm 2021 và quá trình xét xử, nguyên đơn anh Lê Minh H trình bày: Anh H và chị T chung sống với nhau từ

1 tháng 12 năm 1997, đến năm 2002 đăng ký kết hôn. Năm 2018 phát sinh mâu thuẫn gia đình do vợ, chồng không hợp nhau, thường xuyên cãi vã, cuộc sống không hạnh phúc, nên trong tháng 3/2018 chị T bỏ về nhà cha, mẹ ruột cho đến nay. Anh H điện thoại nhiều lần hàn gắn tình cảm nhưng chị T không về sống chung còn nói với anh làm đơn ra tòa ly hôn. Anh H nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, nên yêu cầu ly hôn. Vợ chồng có hai con chung Lê Minh P sinh năm xxxx và Lê Minh K sinh năm xxxx đã trưởng thành và có khả năng lao động, nên không yêu cầu giải quyết việc nuôi con. Vợ chồng không có tài sản chung.

* Quá trình giải quyết vụ án chị Lê Thị T vắng mặt không có lời trình bày.

* Ý kiến của Viện kiểm sát: Quá trình thụ lý và xét xử vụ án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Đề nghị căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh Lê Minh H. Anh H được ly hôn chị Lê Thị T.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng: Việc nộp đơn khởi kiện, thụ lý đơn và thẩm quyền giải quyết của Tòa án đúng quy định; Việc thu thập tài liệu chứng cứ, thủ tục kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và đưa vụ án ra xét xử được thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Chị Lê Thị T được Tòa án triệu tập hợp lệ phiên tòa lần thứ hai vẫn vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt chị T.

Về hôn nhân, anh Lê Minh H và chị Lê Thị T tự nguyện kết hôn, được UBND xã Phước Trung, huyện Gò Công Đông cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 67/2002 ngày 08/8/2002 là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống phát sinh mâu thuẫn gia đình như anh H trình bày tuy không lớn, nhưng thời gian xa cách lâu năm tình cảm vợ chồng không còn, nên anh H yêu cầu giải quyết ly hôn. Tòa án triệu tập chị T nhiều lần đến Tòa để hòa giải hàn gắn tình cảm, nhưng chị T không đến, không gửi cho Tòa án ý kiến của chị T về việc anh H yêu cầu ly hôn, cho thấy chị T không muốn duy trì hôn nhân. Xét tình trạng hôn nhân đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, phù hợp Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử có căn cứ chấp nhận yêu cầu ly hôn của anh H.

Về nuôi con chung, Hội đồng xét xử ghi nhận con chung đã trưởng thành, đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết.

2

Về tài sản chung: Ghi nhận đương sự không yêu cầu giải quyết.

Án phí sơ thẩm: Anh H phải chịu tiền án phí ly hôn theo quy định.

Đề nghị của Viện kiểm sát có căn cứ, Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội, Luật thi hành án dân sự.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Lê Minh H

1. Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa anh Lê Minh H và chị Lê Thị T.

2. Án phí sơ thẩm: Anh Lê Minh H phải chịu tiền án phí hôn nhân sơ thẩm là 300.000 đồng, được trừ số tiền 300.000 đồng theo biên lai số 0007538 ngày 18/01/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Gò Công Đông.

Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ