vanban.org

Bản án 346 — Tranh chấp quyền sử dụng đất

Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 11/10/2019 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận kháng cáo của chị Nguyễn hị K.

Giữ nguyên B n án dân sự sơ thẩm s 116A/2018/DS-S ngày 26/11/2018 của òa án nhân dân huy n C, tỉnh Đồng háp. Không chấp nhận yêu cầu khởi ki n của anh Nguyễn Bá P và chị Nguyễn hị K về vi c yêu cầu tuyên b hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất s 1535/SCC quyển s 01VPCC/ Đ-GD/2013 giữa hộ bà Võ hị D vớ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp quyền sử dụng đất — án dân sự — "tranh chấp quyền sử dụng đất"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của chị Nguyễn hị K.
  • Căn cứ chính? Điều 308 Bộ luật t tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

B n án s : 346/2019/DS-PT
Ngày: 11/10/2019
V/v tranh chấp quyền sử dụng đất

NHÂN D

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ng u nh hanh M ;

Các Thẩm phán: - Bà Nguyễn hị Vĩnh;

- ng Đinh Chí âm.

- Thư ký phiên tòa: ng Ngô ồng hanh - hư ký òa án nhân dân tỉnh Đồng háp.

- i di n i n ki m t nh n d n t nh ồng Th p tham gia phiên tòa: ng Phan rung Qu c - Kiểm sát viên.

Trong ngày 11 tháng 10 năm 2019, tại trụ sở òa án nhân dân tỉnh Đồng háp xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý s 255/2019/TLPT-DS, ngày 06 tháng 5 năm 2019 về vi c tranh chấp quyền sử dụng đất.

Do B n án dân sự sơ thẩm s 116A/2018/DS-S ngày 26 tháng 11 năm 2018 của òa án nhân dân huy n C bị kháng cáo;

heo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm s 366/2019/QĐ-P ngày 16 tháng 9 năm 2019 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn:

1.1. Anh Nguyễn Bá P, sinh năm 1976;

1.2. Chị Nguyễn hị K, sinh năm 1979;

Cùng địa chỉ: ấp , xã M, huy n C, tỉnh Đồng háp.

Người đại di n hợp pháp của nguyên đơn: Anh Nguyễn hanh L, sinh năm 1994; địa chỉ: 11/5, ấp , xã , huy n L, tỉnh Vĩnh Long. Là người đại di n theo ủy quyền (văn b n ủy quyền ngày 22/3/2017).

Người b o v quyền và lợi ích của nguyên đơn: Luật sư Phan Duy V; Luật sư ô Vĩnh - Công ty Luật N

hi n Lý, thuộc Đoàn Luật sư tỉnh Vĩnh Long.

2. Bị đơn: Bà Võ hị D, sinh năm 1939;

Địa chỉ: ấp , xã M, huy n C, tỉnh Đồng háp.

3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

3.1. ng Nguyễn Văn P1, sinh năm 1927;

3.2. Chị Nguyễn hị Kim D1, sinh năm 1972;

3.3. Chị Nguyễn hị Như Y, sinh năm 2000;

Cùng địa chỉ: ấp , xã M, huy n C, tỉnh Đồng háp.

3.4. Anh Nguyễn Bá , sinh năm 1974;

Địa chỉ: s 37, đường Nguyễn Phúc Chu, phường 15, quận , thành ph ồ Chí Minh.

3.5. Anh Nguyễn oàng 1, sinh năm 1984;

Địa chỉ: ấp , xã M, huy n C, tỉnh Đồng háp.

3.6. Ủy ban nhân dân huy n C.

Địa chỉ: khóm M, thị trấn M, huy n C, tỉnh Đồng háp.

4. Người kháng cáo chị Nguyễn hị K là nguyên đơn trong vụ án.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Nguyên đơn do anh Nguyễn Thanh L đại diện theo ủy quyền trình bày: ng ngoại của anh P và chị K là cụ Võ Văn C có 20.000m2 đất lúa, năm 1981 ông C có làm di chúc để lại cho 04 người con là Võ hị B, Võ Văn N, Võ Văn 2 và Võ hị D, mỗi người 5.000m2. Khi chết 04 người con tự thỏa thuận chia đất theo di chúc.

Sau khi chia thừa kế, thì năm 2001 ông N và ông 2 đã chuyển nhượng lại cho anh P và chị K di n tích 7.000m2 (trong đó ông 2 5.000m2, ông N 2.000m2). Anh P và chị K đã giao đủ tiền cho ông 2 và ông N và hai ông cũng đã giao đất cho anh P và chị K, vị trí: Đông giáp ranh với đất bà Võ hị B; ây giáp với đất bà D; Nam giáp với đất ông Nguyễn Văn L1 và Bắc giáp sông Mương Chùa.

Năm 2003, khi Nhà nước có chủ trương kê khai đăng ký quyền sử dụng đất, thì anh P và chị K yêu cầu được đăng ký đ i với di n tích 7.000m2 đã nhận chuyển nhượng của ông N và ông , nhưng bà D nói “Vợ chồng anh P, chị K là con út, lại s ng chung với cha, mẹ nên để bà D đi kê khai, đăng ký quyền sử dụng đất.

Ngày 28/11/2003 Ủy ban nhân dân huy n C đã cấp quyền sử dụng cho bà D với di n tích 17.630m2 (trong đó có 5.000m2 bà D thừa kế của ông C; 7.000m2 của anh P, chị K nhận chuyển nhượng của ông N và ông 2 năm 2001; 5.300m2 đất hương qu gắn liền với căn nhà. Mặc dù bà D đứng tên quyền sử dụng nhưng thực tế đều do anh P, chị K trực tiếp qu n lý sử dụng từ trước cho đến nay, vì bà D và ông Pháo đã lớn tuổi không còn kh năng lao động.

Bà D đã lợi dụng vi c là chủ hộ, đứng tên quyền sử dụng nên đã lén lút anh P, chị K lập hợp đồng tặng cho toàn bộ di n tích đất 17.630m2 cho anh Nguyễn Bá vào ngày 06/11/2013 mà anh P, chị K không biết, hợp đồng tặng cho anh P và chị K không có ký tên.

Sau khi được tặng cho quyền sử dụng thì anh thực hi n vi c kê khai, đăng ký và được Ủy ban nhân dân huy n C cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tương đương với 17.630m2. Lúc này anh P và chị K mới phát hi n đất tranh chấp bà D tặng cho anh T.

Nay anh P và chị K yêu cầu: uyên b hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất s : 1535/SCC quyển s 01VPCC/ Đ-GD/2013 giữa hộ bà Võ hị D với ông Nguyễn Bá lập ngày 06/11/2013 tại Văn phòng công chứng Đồng háp là vô hi u. ủy các giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thuộc các thửa: hửa 940 di n tích 951m2; thửa 975 di n tích 2.949m2; thửa 1026 di n tích 1.560m2; thửa 1035 di n tích 1.564m2; thửa 1100 di n tích 1.051m2; thửa 1192 di n tích 3.412m2; thửa 933 di n tích 907m2; thửa 1397 di n tích 1721m2 và thửa 901 di n tích 3.515m2, cùng tờ b n đồ s 04, đất tọa lạc tại ấp , xã M, huy n C, tỉnh Đồng háp, đất cấp cho anh Nguyễn Bá ngày 13/12/2013. Buộc bà Võ hị D, ông Nguyễn Văn P, chị Nguyễn hị Kim D1, anh Nguyễn Bá và anh Nguyễn oàng 1 có nghĩa vụ liên đới tr lại cho vợ chồng anh P, chị K di n tích đất 7.000m2 (nhận chuyển nhượng từ ông N và ông 2) thuộc các thửa: 901; 933; 940; 975; 1026; 1035, cùng tờ b n đồ s 04, loại đất lúa, tọa lạc tại ấp , xã M, huy n C, tỉnh Đồng háp.

Bị đơn bà Võ Thị D trình bày:

Bà là người thừa kế đất đai nhà cửa của cụ C, sau khi cụ C chết thì bà D đến Ủy ban nhân dân xã làm giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào ngày 25/02/1989 và đến ngày 17/12/1993 thì bà D được Ủy ban nhân dân huy n C cấp quyền sử dụng đất với di n tích 17.900m2.

Ngày 19/3/1994, ông Võ Văn N bán phần đất di n tích 2.670m2 cho bà Võ hị D với s tiền 08 chỉ vàng 24kra, có làm giấy tay do ông Võ Văn Bình T3 viết dùm (ông N chết năm 1995);

Ngày 24/4/1998, ông Võ Văn 2 bán đất cho bà D (c phần đất của ông N và ông 2 mà bà D đứng tên trước đó) di n tích 5.000m2 với s vàng là 40 chỉ vàng 24kra (tr lần 1 ngày 24/4/1998, tr lần 2 ngày 24/4/2000), có ông Võ Văn Bình 3 chứng kiến và có làm giấy tay.

Sau khi tr tiền và vàng mua đất xong, bà D gọi các con của bà D về chia đất, cụ thể: Nguyễn hị Kim D1 di n tích 2.500m2 đất ruộng; Nguyễn Bá di n tích 2.500m2 đất ruộng và Nguyễn Bá P di n tích 5.000m2 đất ruộng (do anh P ở chung với bà D và ông P1 nên được chiều hơn).

Phần còn lại là của bà D và ông P1, bà D và ông P1 nói vậy nhưng chưa tách quyền sử dụng đất mà đất đã cho thuê hết chứ anh P không có làm.

Năm 2007, anh P mượn giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bà D đi vay của Ngân hàng với s tiền 300.000.000 đồng ngày 06/9/2011, nhận trước 200.000.000 đồng, còn lại 100.000.000 đồng một thời gian sau anh P kêu bà D nhận tiếp nhưng bà D không đồng ý.

Đến lúc này thì chị D1, ông P1 và anh mới hay là bà D đã vay Ngân hàng cho anh P thế chấp quyền sử dụng, vì không nhận thêm 100.000.000 đồng nên anh P cất nhà ra ở riêng. Sau đó, đến ngày đáo hạn Ngân hàng anh P không tr mà yêu cầu bà D vay thêm 01 năm nữa, đến năm 2012 anh P cũng không tr mà ra điều ki n với bà D là cho anh P di n tích 7.000m2 thì anh P tr tiền cho Ngân hàng còn không thì để Ngân hàng phát mãi. Bà D và ông P1 yêu cầu anh P tr nhưng không tr và ký vào biên b n hòa gi i là nếu không tr tiền cho Ngân hàng thì coi như đã nhận phần đất, sau đó gia đình lo tiền để tr cho Ngân hàng và lấy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất về và bà D đã giao toàn bộ đất đai cho anh T và đến ngày 13/12/2013 anh được cấp quyền sử dụng. Năm 2014, anh P lấy đất lại làm, bà D và ông P2 thấy anh P thiếu nợ quá nhiều nên đồng ý để cho anh P làm để tr nợ. i n nay bà D và ông P1 đã tr hết nợ cho anh P.

i n nay anh đã chuyển nhượng cho anh Nguyễn oàng 1 di n tích đất ruộng các thửa 901; 933; 940; 975; 1026; 1035 với di n tích 12.910m2. Còn các thửa 1100, 1192, 2718 và 2719 chúng tôi đang sử dụng và giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do anh T qu n lý, không có thế chấp hay cầm c cho ai. Nay bà D không đồng ý theo yêu cầu của anh P và chị K.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Hoàng T trình bày: Ngày 08/12/2016, anh nhận chuyển nhượng của anh Nguyễn Bá di n tích 12.910m2 thuộc thửa 901; 933; 940; 975; 1026; 1035 tờ b n đồ s 04, đất tọa lạc tại ấp ây M , xã ội, huy n C, tỉnh Đồng háp và anh đã được cấp quyền sử dụng đất. Ngày 02/5/2017, anh T tiến hành giao đất cho anh canh tác, sử dụng có sự chứng kiến của anh Nguyễn hanh Bình (phó ấp ây M ), lúc này không có ai ngăn c n hoặc tranh chấp. Đến khi anh chuẩn bị xu ng gi ng vụ è thu năm 2017, thì anh P đứng ra ngăn c n và anh có báo chính quyền địa phương.

ại kết luật s 01/KL-UBND ngày 21/9/2017 của Ủy ban nhân dân huy n C thì vi c anh nhận chuyển nhượng các thửa đất nói trên của anh T là đúng quy định của pháp luật. Phần đất này hi n anh đang cánh tác sử dụng và giấy chứng nhận quyền sử dụng đất anh đang qu n lý, không cầm có thế chấp cho ai. Nay anh không đồng ý theo yêu cầu của anh P, chị K, vì anh nhận chuyển nhượng hợp pháp từ anh T.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn Văn P1, Nguyễn Thị Kim D1 và Nguyễn Bá T trình bày: h ng nhất với lời trình bày của bà D, không bổ sung gì thêm.

B n án dân sự sơ thẩm của òa án nhân dân huy n C đã quyết định:

- Không chấp nhận yêu cầu khởi ki n của anh Nguyễn Bá Pvà chị Nguyễn hị K về vi c yêu cầu tuyên b hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất s 1535/SCC quyển s 01VPCC/ Đ-GD/2013 giữa hộ bà Võ hị D với ông Nguyễn Bá T lập ngày 06/11/2013 tại Văn phòng công chứng Đồng háp là vô hi u; hủy các giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thuộc các thửa: 901 di n tích 4.293m2; thửa 933 di n tích 907m2; thửa 940 di n tích 951m2; thửa 975 di n tích 2.949m2; thửa 1026 di n tích 2.246m2; thửa 1035 di n tích 1.563m2; thửa 1100 di n tích 1.051m2; thửa 1192 di n tích 3.412m2; thửa 2718 di n tích 379m2 và thửa 2719 di n tích 1.342m2 cùng tờ b n đồ s 04; buộc bà Võ hị D, ông Nguyễn Văn P1, chị Nguyễn hị Kim D1, anh Nguyễn Bá T và anh Nguyễn oàng T1 có nghĩa vụ liên đới tr lại cho vợ chồng anh P, chị K di n tích đất 7.000m2, thuộc các thửa: 901; 933; 940; 975; 1026; 1035, đất tọa lạc tại ấp , xã M, huy n C, tỉnh Đồng háp (Theo sơ đồ đo đạc và biên bản xem xét thẩm định tại chổ ngày 12/01/2018 của Trung tâm kỹ thuật tài nguyên và môi trường Đồng Tháp.

- Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá: ổng cộng là 15.081.500 đồng, anh P và chị K ph i liên đới chịu đã nộp và chi xong.

- Về án phí: Anh Nguyễn Bá Pvà chị Nguyễn hị K ph i có nghĩa vụ liên đới chịu 22.480.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm, nhưng được khấu trừ vào s tiền tạm ứng án phí đã nộp 9.600.000 đồng theo biên lai s 16080 ngày 04/10/2017 của Chi cục thi hành án dân sự huy n C. Anh P và chị K còn ph i nộp tiếp s tiền 12.880.000 đồng.

+ Bà Võ hị D, ông Nguyễn Văn P1, chị Nguyễn hị Kim D1, anh Nguyễn Bá T và anh Nguyễn oàng T1 không ph i chịu án phí dân sự sơ thẩm.

Ngoài ra b n án còn tuyên về quyền và thời hạn kháng cáo của các đương sự, quyền và nghĩa vụ của người được thi hành án, người ph i thi hành án, thời hi u thi hành án.

Sau khi xét xử sơ thẩm ngày 06 tháng 12 năm 2018 chị Nguyễn hị K là nguyên đơn kháng cáo b n án sơ thẩm s 116A/2018/DS-S ngày 26 tháng 11 năm 2018 của òa án nhân dân huy n C, yêu cầu òa án cấp phúc thẩm sửa b n án sơ thẩm chấp nhận yêu cầu của chị.

ại phiên tòa phúc thẩm:

Nguyên đơn giữ nguyên nội dung khởi ki n và kháng cáo, không tự thỏa thuận được với bị đơn về nội dung gi i quyết vụ án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài li u, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết qu tranh luận tại phiên tòa, phát biểu của Kiểm sát viên, ội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục t tụng: Đơn kháng cáo của chị Nguyễn hị K đúng về hình thức, nội dung và thời hạn theo quy định tại các Điều 272, 273 của Bộ luật t tụng dân sự.

Về nội dung: Nguồn g c đất tranh chấp là của ông 2 và ông Ngận bán cho bà D có làm giấy tay, thuộc các thửa: 901; 933; 940; 975; 1026; 1035, đất tọa lạc tại ấp , xã M, huy n C, tỉnh Đồng háp. Đất hi n nay do anh T1 đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Anh P chị K yêu cầu buộc bà Võ hị D, ông Nguyễn Văn P1, chị Nguyễn hị Kim D1, anh Nguyễn Bá T và anh Nguyễn oàng T1 tr lại không được cấp sơ thẩm chấp nhận nên kháng cáo.

Xét vi c chị K kháng cáo yêu cầu òa án nhân dân tỉnh Đồng háp sửa án sơ thẩm, buộc bà Võ hị D, ông Nguyễn Văn P1, chị Nguyễn hị Kim D1, anh Nguyễn Bá T và anh Nguyễn oàng T1 tr 7.000m2 đất, thuộc các thửa: 901; 933; 940; 975; 1026; 1035, đất tại ấp , xã M, huy n C, tỉnh Đồng háp. Yêu cầu tuyên b hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất s : 1535/SCC quyển s 01VPCC/ Đ-GD/2013 giữa hộ bà Võ hị D với anh Nguyễn Bá T lập ngày 06/11/2013 tại Văn phòng công chứng Đồng háp là vô hi u; hủy các giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho anh T. ội đồng xét xử nhận thấy, vi c chị K kháng cáo yêu cầu tuyên b hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất giữa bà D và anh T là không có căn cứ. Bởi vì, phần đất này bà D được nhận thừa kế của cha để lại và trực tiếp nhận chuyển nhượng của ông 2, ông Ngận, anh P chị K không có đóng góp công sức tạo ra. Như vậy đất này bà D có quyền tặng cho bất k ai, không cần sự đồng ý của các thành viên trong hộ.

Đ i với vi c chị K trình bày là nhận chuyển nhượng đất từ ông 2 và ông Ngận nhưng không có chứng cứ chứng minh và không được bà D, ông Pháo thừa nhận. ại ờ nhượng giao đất ngày 19/3/1994 của ông Võ Văn Ngận và ờ nhượng đất ngày 24/4/1998 của ông Võ Văn huận đều ghi bán phần đất trên cho bà Võ hị D. Và tại ờ cam kết ngày 26/9/2012, anh Nguyễn Bá P thừa nhận có mượn giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bà D để vay v n Ngân hàng và hứa trong vòng 06 tháng sẽ tr lại quyền sử dụng đất cho bà D. Mặt khác, tại biên b n về vi c gi i quyết vụ vi c dân sự ngày 15/9/2013 anh P yêu cầu bà D chia 7.000m2 đất thì anh P mới tr nợ Ngân hàng, nếu không cho anh P s đất trên thì bà D ph i tr nợ cho Ngân hàng, anh P không có gì để khiếu nại. ừ những căn cứ này đủ cơ sở xác định đất tranh chấp là của bà D. ại phiên tòa phúc thẩm đại di n theo ủy quyền của nguyên đơn yêu cầu hủy toàn bộ các thửa đất cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, trong khi đất tranh chấp chỉ có 7.000m2, yêu cầu này là không có cơ sở.

Luật sư b o v quyền và lợi ích hợp pháp của chị K, anh P đề nghị ội đồng xét xử, sửa án sơ thẩm, chấp nhận kháng cáo của chị K, buộc bà Võ hị D, ông Nguyễn Văn P1, chị Nguyễn hị Kim D1, anh Nguyễn Bá T và anh Nguyễn oàng T1 tr lại cho chị K, anh P 7.000m2, thuộc các thửa: 901; 933; 940; 975; 1026; 1035, đất tọa lạc tại ấp , xã M, huy n C, tỉnh Đồng háp. Yêu cầu tuyên b hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất s : 1535/SCC quyển s 01VPCC/ Đ-GD/2013 giữa hộ bà Võ hị D với anh Nguyễn Bá T lập ngày 06/11/2013 tại Văn phòng công chứng Đồng háp là vô hi u; hủy các giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho anh T. Xét thấy, đề nghị của luật sư không có căn cứ để chấp nhận.

ại phiên tòa phúc thẩm, đại di n Vi n kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng háp, phát biểu vi c tuân thủ pháp luật của hẩm phán và ội đồng xét xử đ m b o đúng quy định của Bộ luật t tụng dân sự, những người tham gia t tụng chấp hành t t quy định của pháp luật và đề xuất hướng gi i quyết không chấp nhận kháng cáo của chị K. Xét thấy, đề nghị của Vi n kiểm sát là có cơ sở chấp nhận.

ừ những phân tích trên Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận thấy b n án sơ thẩm xét xử là có căn cứ, kháng cáo của chị K là không có cơ sở để chấp nhận, giữ nguyên b n án sơ thẩm.

Các phần còn lại của b n án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hi u lực kể từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị.

Do giữ nguyên án sơ thẩm nên chị K ph i chịu tiền án phí dân sự phúc thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ kho n 1 Điều 148, kho n 1 Điều 308 Bộ luật t tụng dân sự; Nghị quyết 326/2016/UB VQ 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Qu c hội về mức thu, miễn, gi m, thu, nộp, qu n lý và sử dụng án phí và l phí Tòa án.

uyên xử:

1. Không chấp nhận kháng cáo của chị Nguyễn hị K.

2. Giữ nguyên B n án dân sự sơ thẩm s 116A/2018/DS-S ngày 26/11/2018 của òa án nhân dân huy n C, tỉnh Đồng háp.

- Không chấp nhận yêu cầu khởi ki n của anh Nguyễn Bá P và chị Nguyễn hị K về vi c yêu cầu tuyên b hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất s 1535/SCC quyển s 01VPCC/ Đ-GD/2013 giữa hộ bà Võ hị D với ông Nguyễn Bá T lập ngày 06/11/2013 tại Văn phòng công chứng Đồng háp là vô hi u; hủy các giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thuộc các thửa: 901 di n tích 4.293m2; thửa 933 di n tích 907m2; thửa 940 di n tích 951m2; thửa 975 di n tích 2.949m2; thửa 1026 di n tích 2.246m2; thửa 1035 di n tích 1.563m2; thửa 1100 di n tích 1.051m2; thửa 1192 di n tích 3.412m2; thửa 2718 di n tích 379m2 và thửa 2719 di n tích 1.342m2 cùng tờ b n đồ s 04; buộc bà Võ hị D, ông Nguyễn Văn P1, chị Nguyễn hị Kim D1, anh Nguyễn Bá T và anh Nguyễn oàng T1 có nghĩa vụ liên đới tr lại cho vợ chồng anh P, chị K di n tích đất 7.000m2, thuộc các thửa: 901; 933; 940; 975; 1026; 1035, đất tọa lạc tại ấp , xã M, huy n C, tỉnh Đồng háp. (Theo sơ đồ đo đạc và biên bản xem xét thẩm định tại chổ ngày 12/01/2018 của Trung tâm kỹ thuật tài nguyên và môi trường Đồng Tháp).

3. Về án phí:

+ Anh Nguyễn Bá Pvà chị Nguyễn hị K ph i liên đới chịu 22.480.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm, nhưng được trừ vào s tiền tạm ứng án phí đã nộp 9.600.000 đồng theo biên lai s 16080 ngày 04/10/2017 tại Chi cục thi hành án dân sự huy n C. Anh P và chị K còn ph i nộp tiếp 12.880.000 đồng.

+ Chị Nguyễn hị K ph i chịu 300.000 đồng tiền án phí dân sự phúc thẩm, nhưng được trừ vào s tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng theo biên lai s 0001191 ngày 07/12/2018 tại Chi cục thi hành án dân sự huy n C.

4. Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá: ổng cộng là 15.081.500 đồng, anh P và chị K ph i liên đới chịu. Anh P chị K đã nộp tạm ứng và đã chi xong.

rường hợp b n án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người ph i thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguy n thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự. hời hi u thi hành án được thực hi n theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

B n án phúc thẩm có hi u lực kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ